Việc ban hành Luật người khuyết tật năm 2010 và phê chuẩn thực hiện Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD) cũng đặt ra yêu cầu dành cho các nhà làm luật phải đưa ra các biện pháp cụ thể trong Bộ luật hình sự (BLHS) để bảo vệ tối đa các quyền của người khuyết tật. Trong BLHS 2015, việc đưa tình tiết tăng nặng liên quan đến nạn nhân là người khuyết tật được xem là một điểm mới đáng ghi nhận. Thế nào là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự? Hiện nay, pháp luật hình sự Việt Nam (năm 2015) chưa có định nghĩa pháp lý về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS), tuy nhiên khoa học pháp luật hình sự cũng đã có một số khái niệm như:  (1) “Tình tiết tăng nặng TNHS là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể của một loại tội phạm tăng lên so với trường hợp bình thường và do đó được coi là căn cứ để tăng nặng TNHS đối với trường hợp phạm tội đó”1 (2) “Các tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết trong một vụ án cụ thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn trong một khung hình phạt”2 (3) “Những tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết làm cho một hành vi phạm tội hoặc người phạm tội tăng lên mức độ nguy hiểm cho xã hội để từ đó cần áp dụng hình phạt nặng hơn trong phạm vi một khung hình phạt đã được xác định”3 Dù với cách hiểu như thế nào thì tất cả khái niệm trên đều mang những đặc điểm: là tình thiết làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; là tình tiết quan trọng để Toà án làm căn cứu quyết định người phạm tội có thể chịu một hình phạt cao nhất trong khung hình phạt đã được xác định tại BLHS. Lịch sử hình thành quy định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự - phạm tội đối với người khuyết tật Năm 1985, Bộ luật hình sự (BLHS) đầu tiên của Việt Nam được ban hành, trong đó, cũng đã đề cập đến các tình tiết tăng nặng hình phạt (thời điểm này trong BLHS gọi đây là tình tiết tăng nặng hình phạt) (Điều 39 BLHS 1985). Trong khoảng 15 năm tồn tại với 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 với hơn 100 điều luật được sửa đổi bổ sung đã phần nào đáp ứng được sự đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong đó việc hoàn thiện quy định về tội phạm và hình phạt ở một số tội danh theo hướng định lượng dấu hiệu định tội, phân hóa trách nhiệm hình sự qua việc tách tội danh và cụ thể hóa các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng về các tội xâm phạm sở hữu, kinh tế. Tuy nhiên, BLHS 1985 vẫn chưa có những quy định dành riêng nhằm bảo vệ đối tượng người khuyết tật, cụ thể là trong các tình tiết được xác định là làm tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Đến năm 1999, BLHS thứ hai được ban hành đã kế thừa các quy định trong BLHS 1985 và bổ sung thêm một số tình tiết tăng nặng như: phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội… và giảm bớt đi một số tình tiết tăng nặng khác để phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội bấy giờ (Điều 48 BLHS 1999). Mặc dù trải qua một thời gian dài thực hiện, sửa đổi, bổ sung đối với BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), BLHS Việt Nam vẫn chưa đề cập đến tình tiết tăng nặng TNHS khi phạm tội đối với đối tượng yếu thế là người khuyết tật. Trong khi đó người khuyết tật (nhất là người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng) là đối tượng rất dễ trở thành nạn nhân của hành vi tội phạm vì chính lý do sức khoẻ thể chất và tinh thần của họ. Người khuyết tật có quyền được pháp luật bảo vệ  một cách tối đa, giống như các đối tượng yếu thế khác (trẻ em, phụ nữ có thai người cao tuổi…). Như vậy, các chế tài hình sự áp dụng đối với những tội phạm mà nạn nhân của các tội phạm đó là những đối tượng yếu thế (trong đó có người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng) cũng cần thiết được quy định nghiêm khắc hơn trong BLHS  để đảm bảo tính răn đe của pháp luật.    Ngày 27/11/2015 Quốc hội thông qua BLHS năm 2015 và sau đó được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định tình tiết tăng nặng TNHS khi phạm tội đối với người khuyết tật. So với Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy định tình tiết “Phạm tội đối với người tàn tật” là dấu hiệu định khung của duy nhất một tội là tội hành hạ người khác theo quy định tại điểm a, Khoản 2, Điều 110 thì nay BLHS đã mở rộng phạm vi bảo vệ quyền của người khuyết tật dưới góc độ pháp luật hình sự bằng việc thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để áp dụng cho mọi tội phạm. Điều này đánh dấu một bước ngoặt mới trong nhận thức về việc lồng ghép vấn đề khuyết tật trong BLHS, đưa BLHS 2015 trở thành một bộ luật tiến bộ nhất đảm bảo quyền của người khuyết tật, đồng thời cũng phù hợp với CRPD đã được Việt Nam ký kết. Về mặt thuật ngữ, thuật ngữ “người tàn tật” được thay bằng thuật ngữ “người khuyết tật” để phù hợp với Luật Người khuyết tật của Việt Nam (ban hành 2010). Tại khoản 1 Điều 52 BLHS 2015, có 15 tình tiết được coi là tình tiết tăng nặng TNHS (như phạm tội có tổ chức, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai…) Đặc biệt trong đó phạm tội với người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng là một trong các tình tiết tăng nặng TNHS (điểm k). Theo đó, người phạm tội nếu phạm tội đối với người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức sẽ bị coi là tình tiết tăng nặng TNHS. BLHS đã cho phép Toà án áp dụng tình tiết này để xác định mức độ trách nhiệm hình sự đối với mọi tội phạm, mọi hành vi phạm tội xâm hại đến người khuyết tật mà không cần xem xét đến ý chí chủ quan của tội phạm.  Vai trò của quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi phạm tội đối với người khuyết tật  Thứ nhất, việc quy định các tình tiết tăng nặng TNHS góp phần hạn chế hành vi phạm tội đối với người khuyết tật. BLHS được ban hành có nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Với vai trò này, việc quy định các tình tiết tăng nặng cũng nhằm hạn chế, phòng ngừa đối với các hành vi phạm tội đối với người khuyết tật, phần nào sẽ hạn chế các                                                                                                               hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ và tinh thần của người khuyết tật.  Thứ hai, phù hợp với quy định quốc về về quyền của người khuyết tật. Khoản 2 Điều 15 CRPD        quy định các quốc gia thành viên tiến hành mọi biện pháp hiệu quả về lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm ngăn ngừa sự tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm đối với người khuyết tật trên cơ sở bình đẳng với những người khác. Khoản 1 Điều 16 CRPD quy định các quốc gia thành viên tiến hành mọi biện pháp thích hợp về lập pháp, hành pháp, xã hội, giáo dục và các biện pháp khác để bảo vệ người khuyết tật không bị bất kỳ hình thức bóc lột, bạo hành hoặc lạm dụng nào, kể cả bóc lột, bạo hành hoặc lạm dụng trên cơ sở giới, bất kể trong hay ngoài gia đình. Như vậy, việc quy định các tình tiết tăng nặng TNHS khi phạm tội đối với người khuyết tật phù hợp với tinh thần của Công ước nhằm bảo vệ, ngăn ngừa các hành vi xâm phạm đến quyền của người khuyết tật. Thứ ba, việc cân nhắc, xem xét để áp dụng chính xác các tình tiết tăng nặng TNHS trong vụ án hình sự và đối với mỗi người phạm tội cụ thể chính là đảm bảo sự phù hợp giữa mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội so với mức hình phạt khung tương ứng được quy định khi đối tượng phạm tội là người yếu thế. Xét về yếu tố y tế, người khuyết tật là người khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận hoặc suy giảm chức năng, khiến người khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong việc lao động, sinh hoạt, học tập4. Chính vì điều này, người khuyết tật rất dễ trở thành đối tượng phạm tội khi bị giảm hoặc mất khả năng phản kháng hoặc do hạn chế về nhận thức mà không biết mình trở thành nạn nhân của tội phạm. Những hành vi phạm tội đối với người khuyết tật gây nguy hiểm hơn cho xã hội và hoàn toàn xứng đáng bị tăng nặng TNHS. Kết luận Từ những phân tích trên cho thấy, việc quy định phạm tội đối với người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là hoàn toàn cần thiết, phù hợp với cả lý luận và thực tiễn xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, vì nhiều rào cản trong nhận thức, môi trường vật chất, thông tin – truyền thông mà ngày nay việc tiếp cận của người khuyết tật đối với các chính sách pháp luật đang gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, nên chăng, Nhà nước ta cần có nhiều biện pháp hơn nữa trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật để người khuyết tật có thể tiếp cận dễ dàng nhất đến các chính sách liên quan trực tiếp đến người khuyết tật. ThS.Ngô Thị Thu Hằng     1Nguyễn Ngọc Hòa & Lê Thị Sơn. Thuật ngữ Luật hình sự. Trong sách: Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội. NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.116. 2Đinh Văn Quế. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.12; Đinh Văn Quế. Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999. Phần chung. NXB thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.236-237. 3Đỗ Ngọc Quang. Chương III – Quyết định hình phạt của Phần thứ ba. Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam. Trường Đại học Cảnh sát, Hà Nội, 1995, tr. 305.  4Xem khoản 1 Điều 2 Luật người khuyết tật năm 2010       
Khoản 1 Điều 27 Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD) quy định các quốc gia thành viên phải công nhận quyền lao động của người khuyết tật trên cơ sở bình đẳng với những người khác; phải bảo vệ và thúc đẩy việc biến quyền làm việc thành hiện thực. Để cụ thể hoá quy định của CRPD, pháp luật Việt Nam cũng đã có một số chính sách nhằm tăng cường sự tham gia của người khuyết tật trong vấn đề lao động, việc làm, song vẫn còn nhiều điểm đáng bàn. Trước tiên, người khuyết tật được tạo điều kiện để tham gia lao động, làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm thể chất1. Để làm được điều này, Luật người khuyết tật yêu cầu Chính phủ cũng như người sử dụng lao động cần tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia lao động phù hợp với sức khỏe, đặc điểm cũng như kỹ năng chuyên môn của mình. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn chưa tiếp cận vấn đề lao động, việc làm dựa trên quyền của người khuyết tật trên cơ sở bình đẳng với những người khác2, mà chỉ đang tập trung đến vấn đề hỗ trợ người khuyết tật có cơ hội về việc làm. Chính sách về lao động khuyết tật hiện nay của Việt Nam cơ bản thiên về yếu tố bảo trợ, bảo vệ lao động khuyết tật hơn là bảo đảm sự bình đẳng giữa lao động khuyết tật với lao động không khuyết tật. Ví dụ, hiện nay Chính phủ đang đặt vấn đề vi phạm quy định trách nhiệm về lao động, việc làm của người sử dụng lao động đối với người khuyết tật trong Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em mà không phải là Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng3. Có lẽ thiên về vấn đề bảo vệ lao động khuyết tật, nên thay vì quy định đảm bảo người khuyết tật được làm việc trong một môi trường tiếp cận với đặc điểm thể chất của họ, bình đẳng như những người khác thì lại quy định cấm người sử dụng tuyển người khuyết tật làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm thêm giờ, làm việc ban đêm4. Ở Malaysia, tại khoản 2 Điều 29 Luật người khuyết tật Malaysia quy định: “Người sử dụng  lao động bảo vệ quyền của người khuyết tật, trên cơ sở bình đẳng như với người không khuyết tật, được hưởng điều kiện công bằng và thiện chí trong công việc, bao gồm cơ hội bình đẳng và bình đẳng về thù lao cho công việc có giá trị như nhau, điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh, bảo vệ khỏi sự lạm dụng và giải quyết khiếu nại.” Như vậy, theo quy định của   Malaysia, để người khuyết tật được tiếp cận việc làm một cách tốt nhất thì ngoài việc thừa nhận quyền của người khuyết tật còn phải coi họ bình đẳng trong khả năng, cơ hội làm việc như với người không khuyết tật. Về điểm này, pháp luật của Malaysia đã phản ánh khá đầy đủ tinh thần của CRPD hơn so với pháp luật Việt Nam. Đây là vấn đề cần đặc biệt quan tâm để hoàn thiện chính sách lao động người khuyết tật phù hợp hơn với tinh thần của CRPD.  Tiếp theo, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm các hành vi từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật5. Tuy nhiên, trên thực tế, còn nhiều doanh nghiệp lấy tiêu chí “sức khoẻ” để từ chối tuyển dụng người khuyết tật vào làm việc6, điều này đặt ra một vấn đề cho Nhà nước là cần quy định các biện pháp hiệu quả để đảm bảo các quy định của pháp luật được thực hiện trên thực tế.   Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam đã có chế độ ưu đãi nhằm khuyến khích doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc7. Luật người khuyết tật năm 2010 quy định đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện môi trường làm việc, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, được vay vốn ưu đãi,…Thực tế việc chỉ dành ưu đãi này cho các doanh nghiệp có từ 30% lao động trở lên khiến cho nhiều người sử dụng lao động e dè, bởi số lượng 30% lao động là quá nhiều cho một doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp lớn có số lượng lao động lên đến cả nghìn người hoặc chục nghìn người) để chỉ nhận được những ưu đãi nhỏ so với những gì họ bỏ ra, không đủ “sức hấp dẫn” cho người sử dụng lao động chấp nhận tuyển dụng người khuyết tật làm việc. Hơn nữa, ngoài việc đáp ứng đủ 30% lao động là người khuyết tật thì còn phải đáp ứng điều kiện có tổng số lao động trong năm từ 20 người trở lên mới được ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp8. Trong khi đại đa số các doanh nghiệp có 30% lao động là người khuyết tật thường là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là siêu nhỏ, đa phần là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thủ công hoặc là những tổ chức dành cho người khuyết tật9. Chính điểm mâu thuẫn giữa Luật người khuyết tật và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp này khiến chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhận người khuyết tật khó thực hiện trên thực tế, vì với các doanh nghiệp nhỏ, để đủ 20 người lao động trở lên trong đó có ít nhất 30% lao động là người khuyết tật là khó khả thi. Khuyến nghị Từ thực trạng nêu trên, một số kiến nghị liên quan đến chính sách hiện hành về lao động việc làm đối với người khuyết tật (và có liên quan) đã được đưa ra. Đầu tiên, cần sửa đổi, bổ sung một số chính sách pháp lý trong các văn bản pháp luật về người khuyết tật và Bộ Luật lao động hiện hành theo hướng khẳng định rõ yếu tố bình đẳng về quyền giữa lao động là người khuyết tật với lao động là người không khuyết tật trong lĩnh vực lao động, việc làm. Cần nghiên cứu sửa đổi hoặc bãi bỏ chính sách quy định trường hợp, ngành nghề hạn chế lao động khuyết tật làm việc, không quy định cấm người khuyết tật làm thêm giờ, làm việc ban đêm tại Điều 178 Bộ luật lao động 2012 để đảm bảo yếu tố bình đẳng trong cơ hội có việc làm giữa lao động người khuyết tật và người lao động không khuyết tật (để người khuyết tật được lao động theo đúng nhu cầu, mong muốn của họ trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động). Hơn nữa, cần sửa đổi các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp nhận lao động khuyết tật làm việc nhằm đảm bảo tính khả thi, hiệu quả của những chính sách này. Như đã đề cập ở trên, hiện nay, việc quy định cơ sở sản xuất kinh doanh nhận tối thiểu 30% lao động khuyết tật làm việc sẽ được nhận chính sách ưu đãi đang còn gặp nhiều vướng mắc trong thực tế thực tế. Do đó, cần nghiên cứu xem xét thay đổi chính sách theo hướng: giảm tỉ lệ sử dụng lao động khuyết tật xuống đồng thời với đó là sự thay đổi về tỉ lệ ưu đãi để khuyến khích doanh nghiệp nhận lao động khuyết tật. Ví dụ, với doanh nghiệp nhận 30% lao động khuyết tật được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp thì nếu doanh nghiệp nhận 15% lao động khuyết tật được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng. Ngoài ra, cũng cần xem xét bỏ quy định trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi (2013) về việc doanh nghiệp cần đủ tổng số 20 lao động trong một năm mới được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp sử dụng từ 30% lao động khuyết tật trở lên. Việc này cũng sẽ khắc phục được điểm mâu thuẫn trong pháp luật người khuyết tật và pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Đồng thời, bổ sung quy định yêu cầu các đơn vị sử dụng lao động phải nhận người khuyết tật làm việc với một tỉ lệ nhất định. Trong trường hợp không nhận lao động khuyết tật thì phải đóng góp vào quỹ việc làm cho người khuyết tật một khoản tiền nhất định để hỗ trợ người khuyết tật tự tạo việc làm. Việc quy định trên sẽ góp phần tạo cơ hội cho người khuyết tật có việc làm, đồng thời cũng hạn chế được tình trạng người sử dụng lao động từ chối lao động khuyết tật làm việc. Ngoài ra, cần tăng tính đảm bảo của chính sách nghiêm cấm người sử dụng lao động phân biệt đối xử giữa những lao động khuyết tật và không khuyết tật bằng giải pháp pháp lý: tăng mức độ nghiêm khắc của nội dung các chế tài xử phạt hành chính hiện hành đối với hành vi này. Bởi theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 88/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài về bổ sung vi phạm về tuyển, quản lý lao động về việc phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, nhiễm HIV, khuyết tật trong tuyển dụng, sử dụng và quản lý lao động.”, đối với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng là quá thấp so với doanh thu của một doanh nghiệp và rõ ràng các doanh nghiệp sẵn sàng chịu phạt để không nhận người khuyết tật vào làm. Cuối cùng, không quy định các biện pháp pháp lý bảo đảm chính sách về lao động việc làm dành cho người khuyết tật trong Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em. ThS. Ngô Thị Thu Hằng 1Khoản 1 Điều 33 Luật người khuyết tật 2010 2Điều 27 Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật 3Điều 13 Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ban hành ngày 29/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em. 4Điều 178 Bộ luật lao động năm 2012  5Khoản 2 Điều 33 Luật người khuyết tật 2010 6http://dantri.com.vn/viec-lam/di-xin-viec-khap-noi-co-gai-khuyet-tat-bi-thang-thung-tu-choi-20160418082418941.htm 7Điều 34, 35 Luật người khuyết tật năm 2010 8Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2013  9http://nhandao.net.vn/index.php/hoat-dong-hoi/nghien-cuu-trao-doi/290-viec-lam-cho-nguoi-khuyet-tat-va-kien-nghi-hoan-thien-chinh-sach 
Ngày 30/11/2011, lần đầu tiên Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Theo đó, nhà ở xã hội là nhà ở thị trường phi hàng hóa có sự hỗ trợ của Nhà nước để giảm giá thành, giúp cho các đối tượng chính sách, người nghèo, người thu nhập thấp, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, công nhân, sinh viên... không có khả năng chi trả theo cơ chế thị trường có cơ hội được cải thiện chỗ ở. Chiến lược nói trên đã được cụ thể hóa tại Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội và nay là Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ. Các văn bản này đã quy định rõ các chính sách cụ thể để khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển nhà ở xã hội như: Miễn tiền sử dụng đất; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm thuế VAT đầu ra; hỗ trợ tín dụng ưu đãi... Hiện thực hóa chính sách nêu trên, pháp luật về nhà ở xã hội hiện hành đã dành nhiều chế định về phát triển nhà ở xã hội nhằm phúc đáp nhu cầu rất lớn của người dân; mặt khác, cũng làm phong phú, đa dạng các sản phẩm hàng hóa bất động sản trên thị trường, tăng cơ hội tiếp cận nhà ở của người tiêu dùng. Cụ thể: 1. Pháp luật hiện hành về phát triển nhà ở xã hội  Thứ nhất, xác định nguyên tắc phát triển nhà ở xã hội Nguyên tắc là những đường hướng chỉ đạo để thực hiện công tác. Từ quy định của Luật Nhà ở cũng như Luật Kinh doanh bất động sản, những nội dung nguyên tắc về phát triển nhà ở xã hội được quy định tại Điều 4 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP được xác định như sau: - Việc phát triển nhà ở xã hội tại các đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2 và loại 3 trong quá trình lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch đô thị, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, quy hoạch phát triển khu công nghiệp, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) có trách nhiệm căn cứ vào nhu cầu nhà ở xã hội trên địa bàn để bố trí đủ quỹ đất dành cho phát triển nhà ở xã hội; chỉ đạo cơ quan chức năng xác định cụ thể vị trí, địa điểm, quy mô diện tích đất của từng dự án xây dựng nhà ở xã hội đồng bộ về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nhà ở xã hội. - Diện tích đất và các thông tin về khu vực, địa điểm dành để phát triển nhà ở xã hội phải được công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về nhà ở. - Việc sử dụng đất để phát triển nhà ở xã hội phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch đô thị, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tuân thủ theo đúng giấy phép xây dựng trong trường hợp phải có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về xây dựng. - Việc chuyển mục đích sử dụng đất vườn liền kề, đất nông nghiệp khác để phát triển nhà ở xã hội đối với tổ chức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định; đối với hộ gia đình, cá nhân do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định. Bốn nguyên tắc trên đây là những nguyên tắc cơ bản với mục đích, định hướng và điều chỉnh hoạt động phát triển nhà ở xã hội. So với những quy định của Nghị định số 188/2013/NĐ-CP thì những nội dung này đã được ghi nhận cụ thể, chi tiết không chỉ là những nguyên tắc chung chung mà là những nguyên tắc cụ thể xác định với những yêu cầu cụ thể đối với từng loại đô thị trong đó đặc biệt có những nguyên tắc điển hình áp dụng đối với đối tượng là đất nông nghiệp và những tiêu chí đặc thù áp dụng đối với đất liền kề. Ngoài ra, đặc biệt chú trọng đối với quy hoạch kế hoạch sử dụng đất và quá trình công khai thông tin về phát triển nhà ở xã hội. Thứ hai, các hình thức phát triển nhà ở xã hội Điều 53 Luật Nhà ở năm 2014 quy định ba hình thức phát triển nhà ở xã hội cụ thể, đó là: - Nhà nước đầu tư xây dựng nhà ở xã hội bằng vốn ngân sách nhà nước, công trái quốc gia, trái phiếu, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hoặc đầu tư xây dựng theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao trên diện tích đất được xác định để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định để cho thuê, cho thuê mua; - Doanh nghiệp, hợp tác xã bỏ vốn đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để cho thuê, cho thuê mua, để bán hoặc cho thuê nhà ở để cho người lao động trong đơn vị mình thuê nhưng có sự ưu đãi của Nhà nước theo quy định của pháp luật; - Hộ gia đình, cá nhân bỏ vốn đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên diện tích đất ở hợp pháp của mình để cho thuê, cho thuê mua, bán nhưng có sự ưu đãi của Nhà nước theo quy định. Cụ thể đối với việc phát triển nhà ở xã hội theo hình thức xây dựng - chuyển giao được quy định tại Điều 11 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP là việc căn cứ theo quy hoạch và kế hoạch phát triển nhà ở xã hội đã được phê duyệt trên địa bàn, Sở Xây dựng có trách nhiệm tổ chức lập danh mục các dự án xây dựng nhà ở xã hội theo hình thức BT và xác định các điều kiện lựa chọn nhà đầu tư BT để báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận, công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và của Sở Xây dựng trong thời hạn tối thiểu 30 ngày làm việc về danh mục và các thông tin liên quan đến dự án xây dựng nhà ở xã hội theo hình thức BT, điều kiện lựa chọn nhà đầu tư BT để các nhà đầu tư có cơ sở đăng ký tham gia. Việc lựa chọn chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở và pháp luật có liên quan. Sở Xây dựng có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét để ký hợp đồng BT hoặc ủy quyền cho Sở Xây dựng ký hợp đồng BT. Nhà đầu tư BT có trách nhiệm tổ chức lập và trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 (đối với trường hợp khu vực dự án chưa có quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500) và tổ chức lập dự án xây dựng nhà ở xã hội để thẩm định phê duyệt theo quy định của pháp luật về nhà ở và pháp luật có liên quan. Việc triển khai hoạt động xây dựng nhà ở xã hội đối với dự án xây dựng nhà ở xã hội theo hình thức BT thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng. Sau khi hoàn thành việc đầu tư xây dựng và nghiệm thu công trình nhà ở xã hội theo hợp đồng BT, nhà đầu tư BT có trách nhiệm bàn giao quỹ nhà ở này cho Sở Xây dựng để thực hiện quản lý, khai thác theo quy định. Việc thanh toán cho nhà đầu tư BT được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Thứ ba, tiêu chuẩn thiết kế nhà ở xã hội Điều 55 Luật Nhà ở năm 2014 quy định nhà ở xã hội phải là nhà chung cư hoặc nhà ở riêng lẻ phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp là nhà ở riêng lẻ thì phải được thiết kế, xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội. Trường hợp là nhà chung cư thì căn hộ phải được thiết kế, xây dựng theo kiểu khép kín, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội. Cụ thể, loại nhà và tiêu chuẩn được hướng dẫn tại Điều 7 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP như sau: - Trường hợp nhà ở xã hội là nhà chung cư thì căn hộ phải được thiết kế, xây dựng theo kiểu khép kín, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn diện tích mỗi căn hộ tối thiểu là 25 m2 sàn, tối đa là 70 m2 sàn, bảo đảm phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Chủ đầu tư dự án được điều chỉnh tăng mật độ xây dựng hoặc hệ số sử dụng đất lên tối đa 1,5 lần so với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng hiện hành do cơ quan có thẩm quyền ban hành; Căn cứ vào tình hình cụ thể tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được điều chỉnh tăng tiêu chuẩn diện tích căn hộ tối đa, nhưng mức tăng không quá 10% so với diện tích căn hộ tối đa là 70 m2 và bảo đảm tỷ lệ số căn hộ trong dự án xây dựng nhà ở xã hội có diện tích sàn trên 70 m2 không quá 10% tổng số căn hộ nhà ở xã hội trong dự án. - Trường hợp nhà ở xã hội là nhà ở liền kề thấp tầng thì tiêu chuẩn diện tích đất xây dựng của mỗi căn nhà không vượt quá 70 m2, hệ số sử dụng đất không vượt quá 2,0 lần và phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Trường hợp dự án xây dựng nhà ở xã hội liền kề thấp tầng thì phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Đối với dự án xây dựng nhà ở xã hội tại các đô thị loại đặc biệt, loại 1 và loại 2 thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo và xin ý kiến Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định chủ trương đầu tư. - Việc thiết kế nhà ở xã hội riêng lẻ do hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng phải bảo đảm chất lượng xây dựng, phù hợp với quy hoạch và điều kiện tối thiểu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Bộ Xây dựng hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn thiết kế và ban hành quy định về điều kiện tối thiểu xây dựng nhà ở xã hội riêng lẻ. Nghị định cũng quy định rõ dự án xây dựng nhà ở xã hội đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước phải áp dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Trường hợp chủ đầu tư dự án đề xuất được áp dụng mẫu thiết kế khác thì phải được cơ quan quyết định chủ trương đầu tư chấp thuận. Thứ tư, nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội Điều 10 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP quy định nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội do Nhà nước đầu tư được huy động từ các nguồn sau đây: - Vốn đầu tư trực tiếp từ ngân sách trung ương; vốn trái phiếu Chính phủ (nếu có); quỹ phát triển nhà ở của địa phương (nếu có), quỹ của Bộ Quốc phòng được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật (nếu có); ngân sách địa phương hỗ trợ hàng năm theo quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, công trái nhà ở; huy động từ các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. - Vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA và các nguồn vốn khác vay của nước ngoài (nếu có). Nguồn vốn ngoài ngân sách do các thành phần kinh tế (bao gồm cả hộ gia đình, cá nhân) tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội huy động, gồm: Vốn tự có của chủ đầu tư dự án hoặc của hộ gia đình, cá nhân; vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc từ các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định theo quy định về ưu đãi vốn vay; phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh theo quy định của pháp luật về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu của doanh nghiệp đầu tư; vay vốn thương mại của các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật; vay từ Quỹ phát triển nhà ở của địa phương (nếu có), quỹ của Bộ Quốc phòng được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật (nếu có); các nguồn vốn huy động hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Thứ năm, cơ chế hỗ trợ ưu đãi phát triển nhà ở xã hội Nghị định số 100/2015/NĐ-CP quy định như sau: - Chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội không sử dụng nguồn vốn ngân sách được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cụ thể: + Được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất đã được Nhà nước giao, cho thuê, kể cả quỹ đất để xây dựng các công trình kinh doanh thương mại đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự án xây dựng nhà ở xã hội. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư dự án phải nộp cho Nhà nước đối với trường hợp chủ đầu tư đã nộp tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất hoặc đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác mà diện tích đất đó được sử dụng để xây dựng nhà ở xã hội hoặc chủ đầu tư dự án đã nộp tiền sử dụng đất đối với quỹ đất 20%; + Được dành 20% tổng diện tích đất để xây dựng nhà ở trong phạm vi dự án xây dựng nhà ở xã hội (bao gồm cả dự án sử dụng quỹ đất 20%) để đầu tư xây dựng công trình kinh doanh thương mại (kể cả nhà ở thương mại cao tầng hoặc thấp tầng) nhằm bù đắp chi phí đầu tư, góp phần giảm giá bán, giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội và giảm kinh phí dịch vụ quản lý, vận hành nhà ở xã hội sau khi đầu tư; + Trường hợp phương án quy hoạch chi tiết của dự án do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt mà không bố trí quỹ đất riêng để xây dựng công trình kinh doanh thương mại trong phạm vi dự án thì chủ đầu tư được phép dành 20% tổng diện tích sàn nhà ở của dự án đó để bán, cho thuê, thuê mua theo giá kinh doanh thương mại; phần kinh doanh thương mại phải được hạch toán chung vào toàn bộ dự án và bảo đảm nguyên tắc lợi nhuận định mức tối đa theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP. Ngoài phần diện tích kinh doanh thương mại, chủ đầu tư dự án có trách nhiệm bố trí phần diện tích để phục vụ nhu cầu sinh hoạt chung của các hộ dân cư trong phạm vi dự án (khu vực sinh hoạt cộng đồng, để xe và các công trình hạ tầng thiết yếu khác). Phần diện tích này được xác định trên cơ sở quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành và phương án quy hoạch - kiến trúc do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. - Chủ đầu tư dự án được miễn, giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định. Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội chỉ để cho thuê thì được giảm 70% thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế đối với nhà ở xã hội hiện hành. - Chủ đầu tư dự án được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc tổ chức tín dụng theo quy định thì được vay vốn ưu đãi đầu tư với thời hạn tối thiểu là 15 năm và tối đa không quá 20 năm. Trường hợp chủ đầu tư dự án có nhu cầu vay dưới 15 năm thì chủ đầu tư được thỏa thuận với ngân hàng thời hạn cho vay thấp hơn thời hạn cho vay tối thiểu. - Chủ đầu tư dự án được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần kinh phí đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong phạm vi dự án xây dựng nhà ở xã hội theo quy định. Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội chỉ để cho thuê thì được hỗ trợ toàn bộ kinh phí đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật. - Chủ đầu tư dự án được miễn thực hiện thủ tục thẩm định thiết kế cơ sở đối với trường hợp dự án áp dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình nhà ở xã hội do cơ quan có thẩm quyền ban hành; được áp dụng hình thức tự thực hiện đối với các công tác tư vấn, thi công xây lắp nếu có đủ năng lực theo quy định của pháp luật về xây dựng. Ngoài ra, các hộ gia đình, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đáp ứng yêu cầu quy định thì được hưởng các ưu đãi nêu trên. Có thể khẳng định rằng, dù chính sách nhà ở xã hội ở Việt Nam thực hiện muộn  hơn so với đa số các quốc gia trên thế giới, song bước đầu đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Theo đó, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản gắn với Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, đặc biệt là nhà ở xã hội đã giúp thị trường bất động sản phục hồi tích cực và tạo điều kiện cho hàng trăm ngàn người nghèo, người thu nhập thấp cải thiện được chỗ ở. Dưới góc nhìn của doanh nghiệp, đại diện một số doanh nghiệp cho rằng, chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội kịp thời của Chính phủ đã giúp cho doanh nghiệp vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất là khi thị trường bất động sản “đóng băng” và từng bước phát triển ổn định. 2. Những hạn chế, vướng mắc cần khắc phục trong thời gian tới Thứ nhất, một số văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn ra đời chậm so với yêu cầu của thực tiễn. Văn bản quy phạm pháp luật của một số ngành, lĩnh vực ở Trung ương còn có những nội dung chưa phù hợp với thực tiễn, phải điều chỉnh, bổ sung hoặc thay thế trong thời gian ngắn gây khó khăn trong công tác tổ chức thực hiện chính sách trên địa bàn. Thứ hai, công tác quản lý, vận hành, khai thác các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị còn nhiều lúng túng do cơ chế, chính sách, đặc biệt là việc quản lý các khu nhà tái định cư phục vụ di dân, giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập, phát sinh nhiều vấn đề gây bức xúc cho nhân dân. Thứ ba, việc chỉ đạo xây dựng các khu chung cư cũ trên địa bàn còn chậm, chưa đạt yêu cầu kế hoạch đề ra. Thứ tư, triển khai việc giải ngân gói hỗ trợ nhà ở 30.000 tỷ đồng của Chính phủ còn chậm, thời hạn giải ngân ngắn, số lượng doanh nghiệp, cá nhân vay chưa nhiều, chưa đủ để thúc đẩy thị trường nhà ở, bất động sản; gây khó khăn trong công tác phát triển nhà ở. Thứ năm, mất cân đối giữa cung - cầu về vốn đầu tư, nguồn vốn ngân sách còn hạn hẹp trong khi nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, đặc biệt là vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng xã hội để thu hút nhà đầu tư tham gia đầu tư dự án, người dân mua nhà ở, thiếu tính đồng bộ giữa hạ tầng cơ sở và nhà ở. Do đó, nhiều dự án bị đình trệ, phải điều chỉnh dãn tiến độ so với ban đầu, kể cả các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị. Các thành phố lớn đã rất cố gắng trong tổ chức triển khai các chính sách của Chính phủ về tháo gỡ khó khăn thị trường bất động sản, giải quyết nợ xấu. Tuy nhiên, thị trường nhà ở phục hồi chậm, gặp nhiều khó khăn. Thứ sáu, về phát triển nhà ở xã hội - Một số dự án phát triển nhà ở, dự án khu đô không bố trí quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội. Sự sai phạm này chưa có biện pháp xử lý để đảm bảo việc thực thi pháp luật về nhà ở xã hội. - Việc xây dựng nhà ở xã hội cho thuê do thời gian thu hồi vốn lâu, nhiều rủi ro nên không có nhà đầu tư nào đăng ký thực hiện, khó khăn trong việc thu hút được các nhà đầu tư tham gia đầu tư. Do đó, chỉ tiêu xây dựng nhà ở cho công nhân thuê không đạt chỉ tiêu đã đề ra của Chương trình. - Các dự án nhà ở sinh viên hiện thiếu nguồn vốn đầu tư (vốn trái phiếu Chính phủ). - Các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đang gặp khó khăn, cơ cấu lại bộ máy nhân sự nên số lượng công nhân giảm bớt, nhu cầu nhà ở công nhân cho thuê đang có chiều hướng giảm; vướng mắc trong việc huy động vốn ngoài ngân sách để đầu tư xây dựng mới nhà ở công nhân; việc đáp ứng chỉ tiêu phát triển nhà ở công nhân gặp nhiều khó khăn. TS. Trần Quang Huy Đại học Luật Hà Nội Link bài viết: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=200  
Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản Bộ luật dân sự năm 2015 định nghĩa hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 385). Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác nhau (sau đây gọi chung là bên có quyền). Sau khi kí kết hợp đồng, các bên sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ tương ứng.  Hợp đồng tặng cho tài sản được Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận (Điều 475). Nói cách khác, hợp đồng tặng cho khi các bên đã thoả thuận với nhau về việc một bên đồng ý cho tài sản và bên còn lại đồng ý nhận tài sản đó. Tài sản trong hợp đồng tặng cho bao gồm động sản và bất động sản. Hợp đồng tặng cho tài sản thuộc loại hợp đồng đơn vụ, là loại hợp đồng chỉ có một bên tặng cho tài sản có nghĩa vụ thực hiện, bên còn lại là bên có quyền. Chính vì vậy, hợp đồng này có những đặc điểm khá riêng biệt: Là hợp đồng không đền bù: Hợp đồng tặng cho tài sản là một hợp đồng nằm ngoài quy luật trao đổi ngang giá. Trong hợp đồng tặng cho, một bên (bên tặng cho) trao cho bên kia (bên được tặng cho) một khoản lợi ích vật chất (tài sản tặng cho) mà không yêu cầu bên kia phải trao lại cho mình một lợi ích vật chất khác. Người nhận tài sản được tặng cho không phải trả cho bên đã tặng cho một khoản tiền hay một lợi ích vật chất nào. Là hợp đồng thực tế: Trong hợp đồng tặng cho tài sản, dù hai bên đã có sự thoả thuận cụ thể về đối tượng tặng cho (động sản hoặc bất động sản), điều kiện và thời hạn giao tài sản tặng cho nhưng nếu bên tặng cho chưa giao tài sản cho người được tặng cho, thì hợp đồng tặng cho tài sản chưa được coi là xác lập. Các bên trong hợp đồng không có quyền yêu cầu đối với nhau trong việc thực hiện hợp đồng. Việc hứa tặng cho không làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản. Bên được tặng cho không có quyền yêu cầu bên tặng cho phải giao tài sản đã hứa tặng cho1. Hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản Pháp luật dân sự quy định hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt của hợp đồng không mang tính đền bù tương đương nên ngoài các quy định về hiệu lực chung của hợp đồng, thì pháp luật cũng có những quy định riêng về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và thời điểm này phụ thuộc vào đối tượng của hợp đồng.  Quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Bộ luật dân sự 2015 quy định những điều kiện bắt buộc cho tất cả hợp đồng dân sự mà nếu vi phạm, các bên hoàn toàn có quyền yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu. Các điều kiện của hợp đồng có hiệu lực bao gồm: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng dân sự được xác lập. Khi hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý. Hợp đồng của những người này không bị vô hiệu trong trường hợp hợp đồng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó; hợp đồng chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ; hợp đồng được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự. Trong hợp đồng tặng cho tài sản, nếu người được tặng cho là người không có đủ năng lực pháp luật, hành vi dân sự thì hợp đồng vẫn có hiệu lực nếu người tặng cho có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự. Ví dụ, anh A là người mất năng lực hành vi dân sự, bố anh A tặng cho anh A một căn nhà và sang tên cho anh A. Như vậy, hợp đồng tặng cho giữa anh A và bố anh A vẫn có hiệu lực pháp luật vì nó chỉ phát sinh quyền đối với anh A. Chủ thể tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện. Tất cả các hợp đồng do giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ, cưỡng ép hoặc do tại thời điểm xác lập giao dịch họ không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì hợp đồng này vô hiệu. Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Hình thức của hợp đồng là điều kiện bắt buộc nếu pháp luật có quy định. Trong hợp đồng tặng cho tài sản, nếu tài sản được tặng cho là bất động sản thì hợp đồng phải được lập bằng văn bản, nếu hợp đồng được lập bằng miệng thì hợp đồng đó vô hiệu. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản Thứ nhất, đối tượng tặng cho là động sản Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Đối với động sản mà pháp luật có quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.  Như vậy, nếu trong hợp đồng tặng cho không quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì hiệu lực của hợp đồng tặng cho không bắt đầu kể từ thời điểm hai bên cùng ký vào hợp đồng giống như các loại hợp đồng khác. Thời điểm được xác định hợp đồng có hiệu lực là khi bên tặng cho tài sản chuyển giao tài sản cho bên nhận. Các bên trong hợp đồng không có quyền yêu cầu đối với nhau trong việc thực hiện hợp đồng.  Thứ hai, đối tượng tặng cho là bất động sản Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký, nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm bàn giao bất động sản.  Đối với hợp đồng tặng cho là bất động sản, điều kiện để hợp đồng có hiệu lực bao gồm: Hợp đồng phải được lập bằng văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký. Như vậy, nếu hợp đồng tặng cho bất động sản là hợp đồng miệng (lời hứa) hoặc hợp đồng đã được viết bằng văn bản nhưng không được công chứng, chứng thực thì hợp đồng đó không được coi là hợp đồng đã xác lập. Đối với bất động sản là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, thì hợp đồng chỉ được coi là có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký sang tên chủ sở hữu, trước khi đăng ký sở hữu, hợp đồng sẽ không được coi là có hiệu lực. Thứ ba, hợp đồng tặng cho có điều kiện Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Ví dụ: A kí hợp đồng tặng cho B chiếc xe máy với điều kiện B phải chăm sóc nhà cửa ruộng vườn cho A trong vòng 1 năm khi A đi vắng, chiếc xe cũng đã được A sang tên cho B. Tuy nhiên, sau khi A đi vắng, B không hoàn thành việc trông nom nhà cửa, ruộng vườn khiến cho nhà cửa bẩn thỉu, bừa bãi. A đã đòi lại B chiếc xe máy và yêu cầu B bồi thường phần hao hụt của chiếc xe trong 01 năm B sử dụng. Như vậy hợp đồng tặng cho là hợp đồng không có tính đền bù nên quyết định, cân nhắc cuối cùng luôn thuộc về bên tặng cho tài sản. Do đó, cho dù đã cam kết về việc tặng cho, thậm chí kể cả đặt bút kí hợp đồng hay hợp đồng đã công chứng nhưng bên tặng cho vẫn có quyền thay đổi, từ bỏ ý định tặng cho tài sản đó. Chỉ khi nào bên tặng cho đã chuyển giao tài sản và bên được tặng cho đã nhận tài sản thì hợp đồng tặng cho mới phát sinh hiệu lực và cũng là thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Bên tặng cho chỉ phải chịu trách nhiệm sau khi chuyển giao tài sản tặng cho khi tặng cho tài sản của người khác mà không nêu khuyết tật của tài sản tặng cho2. ThS. Ngô Thị Thu Hằng ----------------------------------- 1 http://tongdaituvanluat.vn/quy-dinh-ve-hop-dong-tang-cho-tai-san-theo-bo-luat-dan-su-2015/  2 ThS. Vũ Thị Hồng Yến, Thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp đồng vay tài sản và hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, Tạp chí Luật học số 4/2010, tr46   
Nội quy lao động là văn bản do người sử dụng lao động ban hành, quy định về các quy tắc xử sự mà người lao động có trách nhiệm bắt buộc phải tuân thủ khi tham gia quan hệ lao động, quy định về các hành vi kỷ luật lao động, cách thức xử lý và trách nhiệm vật chất. Nội quy lao động không chỉ cần thiết cho đơn vị sử dụng lao động mà còn có ý nghĩa thiết thực với chính bản thân người lao động. Khi biết rõ nhiệm vụ của mình và cả những chế tài dự liệu, người lao động sẽ hạn chế được những vi phạm, góp phần  nâng cao năng suất lao động. Quy định về nội quy lao động có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý lao động và xử lý kỷ luật lao động, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động khi tham gia quan hệ lao động. Vấn đề nội quy lao động được quy định từ Điều 119 đến Điều122 Bộ luật Lao động năm 2012 (BLLĐ năm 2012) và tại Điều 27, Điều 28 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động(Nghị định số 05/ 2015/NĐ-CP); Nghị định số 88/2015/NĐ- CP sửa đổi bổ sung Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng( gọi tắt là Nghị định 88/2015/NĐ-CP) . Bài viết dưới đây sẽ đi sâu phân tích các quy định về nội quy lao động theo pháp luật hiện hành và một số vấn đề thực tiễn có liên quan. 1. Quy định về nội quy lao động theo pháp luật hiện hành Thứ nhất: Về thẩm quyền và phạm vi ban hành nội quy lao động  Khoản 1 Điều 119 BLLĐ 2012 quy định: “Người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản”. Theo đó, những đơn vị có sử dụng dưới 10 người lao động thì không nhất thiết phải có nội quy lao động bằng văn bản, khi đó kỷ luật lao động được thể hiện ở những mệnh lệnh, yêu cầu hợp pháp của người sử dụng lao động. Việc ban hành nội quy lao động làm công cụ quản lý lao động trong đơn vị sử dụng lao động vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ bắt buộc của người sử dụng lao động . Việc ban hành nội quy lao động có ý nghĩa quan trọng, giúp người sử dụng lao động thiết lập và duy trì kỷ luật lao động trong đơn vị, từ đó thực hiện quyền quản lý lao động một cách hiệu quả Về phạm vi ban hành nội quy lao động, nếu như BLLĐ sửa đổi bổ sung năm 2002 quy định “doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên thì phải có nội quy lao động bằng văn bản” (Điều 82), thì BLLĐ 2012 đã thay thế cụm từ “doanh nghiệp” bằng “người sử dụng lao động”. Đây là điểm mới quan trọng trong quy định về phạm vi ban hành nội quy lao động. Theo quy định đó, doanh nghiệp không là chủ thể duy nhất mà tất cả các đơn vị khác không phải doanh nghiệp như: Cơ quan, tổ chức nước ngoài, các cơ sở y tế, giáo dục, thể thao ngoài công lập… khi sử dụng từ 10 người lao động trở lên đều phải ban hành nội quy lao động bằng văn bản. Thứ hai: Về nguyên tắc ban hành nội quy lao động:  Khoản 2 Điều 119 BLLĐ năm 2012 quy định: Nội dung của nội quy lao động không được trái với pháp luật về lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trước khi ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. Do vậy, trước khi ban hành nội quy, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của các chủ thể khác về những những nội dung đã quy định trong nội quy[1]. Thứ ba: Nội dung cơ bản của nội quy lao động  Để tránh trường hợp vì mục đích lợi nhuận của mình mà người sử dụng lao động lạm quyền, đặt ra các quy định quá khắt khe đối với người lao động, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, pháp luật đã quy định người sử dụng lao động khi ban hành nội quy lao động phải tuân theo các quy định về nội dung nội quy lao động. Khoản 2 Điều 119 BLLĐ năm 2012 quy định cụ thể về nội dung của nội quy lao động, theo đó, nội quy lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau: Một là: Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi       Nội quy lao động quy định về biểu thời giờ làm việc của người lao động, như thời giờ bắt đầu cũng như thời giờ kết thúc công việc trong ngày, tuần, tháng. Đó là các quy định về thời giờ làm việc trong ngày, trong tuần, thời gian nghỉ giải lao giữa các buổi làm việc; quy định về việc tăng ca, làm thêm giờ; ngày nghỉ hàng tuần, nghỉ lễ, nghỉ phép năm, nghỉ ốm, nghỉ không hưởng lương… Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được quy định cụ thể, chi tiết tại Khoản 1 Điều 27 của Nghị định 05/2015/NĐ-CP như sau: Quy định thời giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trong 01 tuần; ca làm việc; thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc ca làm việc; làm thêm giờ (nếu có); làm thêm giờ trong các trường hợp đặc biệt; thời điểm các đợt nghỉ ngắn ngoài thời gian nghỉ giữa giờ; nghỉ chuyển ca; ngày nghỉ hàng tuần; nghỉ hàng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương. Việc quy định thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong nội quy lao động không chỉ có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi, sức khỏe của người lao động mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng một môi trường lao động có trật tự, kỷ cương, nề nếp và văn minh. Hai là: Trật tự tại nơi làm việc Theo Khoản 2 Điều 27 của Nghị định 05/2015/NĐ-CP, trật tự tại nơi làm việc: Quy định phạm vi làm việc, đi lại trong thời giờ làm việc; văn hóa ứng xử, trang phục; tuân thủ phân công, điều động của người sử dụng lao động (trừ trường hợp thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đe dọa nghiêm trọng tính mạng và sức khỏe của mình). Điều này có một ý nghĩa thiết thực trong một môi trường lao động trật tự, kỷ cương, nề nếp. Tùy thuộc vào những đặc thù khác nhau của từng ngành nghề, từng công việc mà các quy định về giữ trật tự tại nơi làm việc có những điểm khác nhau.Căn cứ vào từng đặc điểm và tính chất công việc mà người sử dụng lao động ban hành các quy định về trật tự tại nơi làm việc cho phù hợp. Ba là: An toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc Khoản 3, Điều 27 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc: Trách nhiệm nắm vững các quy định về an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ; chấp hành biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; tuân thủ nội quy, quy trình, quy chuẩn, tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động; sử dụng và bảo quản phương tiện bảo vệ cá nhân; vệ sinh, khử độc, khử trùng tại nơi làm việc Những năm gần đây, các vụ tai nạn lao động xảy ra tương đối nhiều tại các công trình xây dựng, nhà máy, công xưởng…mà nguyên nhân của các vụ tai nạn này là do chưa tuân thủ kỷ luật lao động về đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc[2]. Chính vì vậy vấn đề tuân thủ kỷ luật lao động về đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc là vô cùng cần thiết và phải được quy định cụ thể trong nội quy lao động để buộc người sử dụng lao động và người lao động phải nghiêm chỉnh thực hiện. Bốn là: Việc bảo vệ tài sản và bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động; Trong quá trình người lao động tham gia vào quan hệ lao động sẽ được người sử dụng lao động bàn giao các tài sản có liên quan để thực hiện nhiệm vụ, công việc được giao. Mặt khác, trong các lĩnh vực đặc thù và ở những vị trí quan trọng, người lao động còn có thể nắm bắt được các bí mật kinh doanh, công nghệ của cơ quan, doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc bảo vệ tài sản, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ và sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động là nghĩa vụ quan trọng, bắt buộc của người lao động khi quan hệ lao động được thiết lập. Đồng thời, trong nội quy lao động cần phải quy định cụ thể về những bí mật kinh doanh, công nghệ, sở hữu trí tuệ của đơn vị mình để người lao động biết và thực hiện. Theo Khoản 4, Điều 27 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định bảo vệ tài sản, bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh, sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động: Danh mục tài sản, tài liệu, bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh, sở hữu trí tuệ phải bảo vệ thuộc phạm vi trách nhiệm được giao. Năm là: Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động và các hình thức xử lý kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất.  Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động và các hình thức xử lý kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất là một nội dung rất quan trọng, cần thiết phải được quy định trong nội quy lao động.  Đây là căn cứ pháp lý để người sử dụng lao động xử lý kỷ luật khi người lao động có hành vi vi phạm.Nội quy lao động phải cụ thể hóa từng loại hành vi vi phạm cũng như mức độ vi phạm tương ứng; các hình thức kỷ luật lao động; xác định các loại trách nhiệm vật chất, phương thức bồi thường sao cho phù hợp, thích ứng với với đặc điểm của từng đơn vị mà không trái với các quy định của pháp luật. Thứ tư: Về thủ tục ban hành nội quy lao động  Để ngăn ngừa sự lạm quyền của người sử dụng lao động làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, pháp luật lao động quy định những trình tự, thủ tục cụ thể mà người sử dụng lao động phải tuân thủ khi ban hành nội quy lao động. Theo Khoản 3 Điều 119 của BLLÐ 2012, trước khi ban hành nội quy lao động thì người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. Theo đó, tại đơn vị cơ sở sẽ thành lập một tổ chức đại diện tập thể lao động và phải lấy ý kiến tham khảo của tổ chức này trước khi ban hành nội quy lao động. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, vì tổ chức đại diện tập thể lao động là tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, là tiếng nói của người lao động. Do vậy, người sử dụng lao động phải tôn trọng và phải tham khảo ý kiến của họ trước khi ban hành nội quy lao động của đơn vị. Mặt khác, để đảm bảo cho việc ban hành nội quy lao động đúng quy định của pháp luật, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm thông báo nội quy lao động đến người lao động, bằng cách niêm yết các nội dung chính của nội quy lao động ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc, để người lao động biết rõ được các nội dung của nội quy lao động và tự lựa chọn cách xử sự cho phù hợp(Khoản 4 Điều 119 BLLÐ 2012). Thứ năm: Đăng ký nội quy lao động Khoản 9 Điều 28 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định rõ: Người sử dụng lao động sử dụng dưới 10 người lao động không phải đăng ký nội quy lao động”. Như vậy, việc đăng ký nội quy lao động tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh là một thủ tục bắt buộc đối với các đơn vị có sử dụng từ 10 người lao động trở lên khi ban hành nội quy lao động. Đây là một điều kiện để nội quy lao động có hiệu lực pháp luật. Nội quy lao động gắn liền với quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Chính vì vậy mà nội quy lao động cần thiết phải được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh để tiến hành việc kiểm tra, rà soát và tham chiếu tính hợp pháp để hạn chế tối đa sự lạm quyền của người sử dụng lao động. Quy định này không chỉ ngăn ngừa tình trạng người sử dụng lao động, vì lợi ích của mình quy định những nội dung gây bất lợi cho người lao động mà còn nhằm tăng cường tinh thần trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc tuân theo các quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 120 BLLÐ năm 2012, người sử dụng lao động phải đăng ký nội quy lao động tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở cấp tỉnh trong thời hạn quy định. Theo quy định tại khoản 2 Điều 120 của BLLÐ 2012, Điều 28 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ đăng ký nội quy lao động cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nơi đăng ký kinh doanh. Các tài liệu trong hồ sơ đăng ký nội quy lao động được quy định cụ thể tại Điều 121 BLLÐ năm 2012. Khi nhận được đầy đủ hồ sơ đăng ký nội quy lao động, cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp giấy xác nhận đã nhận hồ sơ đăng ký nội quy lao động cho người sử dụng lao động. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký nội quy lao động, nếu nội quy lao động có quy định trái với pháp luật thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh có văn bản thông báo và hướng dẫn người sử dụng lao động sửa đổi, bổ sung và đăng ký lại nội quy lao động. Khi nhận được văn bản thông báo nội quy lao động có quy định trái với pháp luật, người sử dụng lao động sửa đổi, bổ sung nội quy lao động, tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thực hiện đăng ký lại nội quy lao động. Trường hợp sửa đổi, bổ sung nội quy lao động đang có hiệu lực, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thực hiện đăng ký lại nội quy lao động. Nội quy lao động có hiệu lực sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nhận được hồ sơ đăng ký hoặc hồ sơ đăng ký lại nội quy lao động. Người sử dụng lao động có chi nhánh, đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh đặt ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm gửi nội quy lao động sau khi có hiệu lực đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nơi đặt chi nhánh, đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh[3] Khi nội quy lao động có hiệu lực thì người sử dụng lao động phải thông báo đến người lao động và những nội dung chính phải được niêm yết. Trường hợp người sử dụng lao động không thông báo công khai hoặc không niêm yết những nội dung chính của nội quy lao động ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc thì sẽ bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng; nếu người sử dụng lao động sử dụng nội quy lao động không được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh thì sẽ bị xử phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (Điều 15 Nghị định số 88/2015/NĐ- CP sửa đổi bổ sung Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2013 của Chính phủ ). 2.Thực tiễn thực hiện các quy định về nội quy lao động Thực tiễn thực hiện các quy định về nội quy lao động hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề còn bất cập, có thể kể đến một số bất cập như sau: Thứ nhất: Về phạm vi các đơn vị ban hành nội quy lao động Theo quy định hiện hành, nội quy lao động chỉ bắt buộc ban hành ở những đơn vị có sử dụng từ 10 người lao động trở lên. Quy định này của BLLÐ năm 2012 đã kế thừa từ BLLÐ năm 1994( được sửa đổi bổ sung năm 2002). Tuy nhiên đến nay những quy định này cần được xem xét lại để đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn sử dụng lao động có nhiều biến động ở Việt Nam. Thực tiễn cho thấy các doanh nghiệp trong nước sử dụng dưới 10 người lao động ở Việt Nam là rất phổ biến. Tại các đơn vị này, vì không bắt buộc phải ban hành nội quy lao động, nên kỷ luật lao động hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sử dụng lao động. Từ đó rất dễ xảy ra tình trạng người sử dụng lao động tự ý đặt ra những quy định rất khắt khe và lấy đó làm căn cứ để xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động một cách tùy tiện, vi phạm pháp luật lao động và ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Do đó cần xem xét quy định mở rộng phạm vi ban hành nội quy lao động để vừa ràng buộc trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thiết lập, duy trì kỷ luật lao động, vừa tăng cường sự quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động trong đơn vị, phù hợp với thực tiễn sử dụng lao động ở Việt Nam. Thứ hai: Nhận thức của người sử dụng lao động về việc ban hành nội quy lao động còn nhiều hạn chế Hiện nay đa số các đơn vị có sử dụng từ 10 người lao động trở lên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc ban hành nội quy lao động và đã thực hiện nghiêm túc việc ban hành nội quy lao động theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị chưa ban hành nội quy lao động hoặc đã ban hành nhưng nội dung nội quy lao động còn chưa đầy đủ hoặc không thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Số đơn vị này chủ yếu là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ như hộ gia đình, hộ kinh doanh, một số ít là các doanh nghiệp tư nhân ….Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do người sử dụng lao động chưa nhận thức được vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của nội quy lao động và chưa lường hết những tác hại to lớn của việc không ban hành nội quy lao động[4] . Thứ ba: Chất lượng của nội quy lao động chưa đảm bảo yêu cầu Một số đơn vị đã ban hành nội quy lao động nhưng nội dung chỉ chú trọng vào các quy định về thời giờ làm việc và đi lại của người lao động trong đơn vị mà chưa tập trung đi sâu vào việc quy định và mô tả chi tiết các hành vi vi phạm của người lao động cũng như các biện pháp xử lư, mức độ xử lư tương ứng đối với các hành vi vi phạm này. Thực tế người sử dụng lao động thường chỉ sử dụng những nội dung có sẵn, quy định một cách chung chung tại Khoản 2 Điều 119 và Điều 125 của BLLÐ 2012 để đưa vào nội dung của nội quy lao động, thậm chí có những trường hợp ban hành nội quy lao động chỉ để mang tính“đối phó” với các cơ quan thanh tra chức năng. Do đó các nội quy lao động này thường rất khó áp dụng trong đơn vị, thậm chí có thể là nguồn gốc nảy sinh các tranh chấp lao động. Mặt khác, đã có những trường hợp khi ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động  vi phạm về trình tự, thủ tục, từ đó dẫn đến hậu quả bản nội quy lao động đã ban hành không có hiệu lực áp dụng trong đơn vị. Ví dụ theo quy định tại Khoản 3 Điều 119 BLLÐ 2012, trước khi ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. Song, nhiều đơn vị đã bỏ qua thủ tục tham khảo ý kiến này mà tiến hành ngay việc ban hành nội quy lao động. Một số trường hợp khác, người sử dụng lao động sau khi ban hành nội quy lao động đã không thực hiện việc thông báo cho toàn thể người lao động trong đơn vị, hoặc không niêm yết những nội dung chính của nội quy lao động tại những nơi cần thiết của nơi làm việc. Thứ tư: Việc đăng ký nội quy lao động với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh còn nhiều hạn chế[5] Mặc dù Nghị định 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính Phủ đã có quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi người sử dụng lao động ban hành và sử dụng nội quy lao động mà không đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh[6]. Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau việc đăng ký nội quy lao động với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh vẫn chưa được người sử dụng lao động thực hiện nghiêm túc, nhiều doanh nghiệp được hỏi không biết đến thủ tục đăng ký nội quy lao động dẫn đến việc đăng ký nội quy lao động vẫn còn hạn chế. Từ thực tiễn nêu trên đòi hỏi cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về nội quy lao động để các chủ thể trong quan hệ lao động hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về nội quy lao động, tránh được các xung đột lao động và nâng cao hơn nữa chất lượng quản lý lao động hiện nay. Đồng thời cần thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra về việc xây dựng nội quy lao động, đảm bảo việc ban hành nội quy lao động đúng theo quy định, đảm bảo cả về số lượng và chất lượng Nội quy lao động. Nội quy lao động là sự cụ thể hóa pháp luật lao động tại doanh nghiệp dựa trên đặc trưng của từng doanh nghiệp, là cơ sở để thực hiện việc quản lý lao động và xử lý kỷ luật lao động; phân định rõ ràng, cụ thể quyền và nghĩa vụ của người lao động cũng như người sử dụng lao động; góp phần hạn chế các tranh chấp lao động, từ đó góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của quan hệ lao động. Thiết lập và duy trì kỷ luật lao động thông qua nội quy lao động là một trong những biện pháp quản lý quan trọng và hữu hiệu nhất trong việc quản lý lao động. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, việc thiết lập và duy trì nội quy lao động là một trong những điều kiện tất yếu để phát triển sản xuất và kinh doanh. Do đó việc hoàn thiện các quy định pháp luật về nội quy lao động nói riêng và pháp luật lao động nói chung là vô cùng  quan trọng và cần thiết. Ths. Hoàng Thị Thanh Hoa -Ths. Lê Đăng Đào ________________________________________ [1] Khoản 3 Điều 119 BLLĐ năm 2012 [2] Xem thêm: Anh Thơ, Báo động tình trạng vi phạm pháp luật về an toàn lao động, http://amc.edu.vn/vi/tin-tuc-su-kien/tin-xay-dung-va-do-thi/an-toan-ky-thuat-xay-dung/4782-bao-dong-tinh-trang-vi-pham-phap-luat-ve-an-toan-lao-dong.html, ngày đăng: 25/8/2016, trc: 04/01/2018 [3] Điều 28 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP [4] Xem thêm: Bạch Đằng, Đừng xem nội quy lao động là chuyện nhỏ, http://nld.com.vn/cong-doan/dung-xem-noi-quy-lao-dong-la-chuyen-nho-20160914221110423.htm, ngày đăng: 14/9/2016, trc: 23/01/2018 [5] Theo báo cáo tổng kết đánh giá 15 năm thi hành Bộ luật Lao động(năm 2011), của Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội “Thành phố Hà Nội chỉ có 5,2% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn đăng ký nội quy lao động, tỉnh Nam Định có 8% doanh nghiệp đăng ký nội quy lao động trong khi có 68% doanh nghiệp trên địa bàn đã xây dựng nội quy lao động” [6] Điều 15 Nghị định 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 Link bài viết: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2278  
1. Thực trạng bạo hành và xâm hại trẻ em trong những năm qua Thời gian qua, tình trạng trẻ em bị bạo hành và xâm hại ngày càng diễn biến phức tạp, gia tăng về mức độ, số lượng vụ việc, nhất là bóc lột sức lao động của trẻ em, các vụ hiếp dâm, dâm ô trẻ em, bạo hành gia đình, bạo lực học đường... gây bức xúc, nhức nhối trong dư luận xã hội. Những vụ việc xâm hại trẻ em liên tiếp được công khai làm rúng động dư luận[1]và cảnh báo “đỏ” về sự an toàn của những đứa trẻ và sự xuống cấp về đạo đức, ý thức pháp luật của những người trưởng thành xẩy ra trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội[2]. “Theo thống kê của Cục Cảnh sát hình sự, Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an, từ năm 2014 đến năm 2016, toàn quốc đã phát hiện 4.147 vụ xâm hại tình dục trẻ em, với 4.320 đối tượng gây án, xâm hại 4.140 em; Riêng 6 tháng đầu năm 2017 đã phát hiện 696 vụ xâm hại tình dục trẻ em, với 716 đối tượng gây án. Nạn nhân bị xâm hại chủ yếu là trẻ em gái (chiếm trên 80%). Trong đó, số trẻ bị xâm hại tình dục nhiều lần chiếm 28,2% và số trẻ em bỏ học, sống lang thang, bị xâm hại tình dục chiếm 11,6%. Đối tượng xâm hại tình dục trẻ em phần lớn chưa có tiền án, tiền sự; người có quan hệ gần gũi với nạn nhân (người thân kể cả người ruột thịt, hàng xóm ở gần nhà, thầy giáo, người yêu…). Đặc biệt, gần đây nổi lên tình trạng các đối tượng là người nước ngoài đến Việt Nam làm việc, du lịch đã có hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em, kể cả đối với trẻ em trai”[3]. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên, trước hết phải kể đến nhận thức của các gia đình, cộng đồng về vấn đề bảo vệ trẻ em chưa đầy đủ và phần nào đó còn bị xem nhẹ; nhiều thói quen, phong tục, tập quán có hại cho trẻ em chưa được các cấp, các ngành quan tâm đấu tranh loại bỏ như coi việc đánh con là việc “bình thường”. Việc ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột đối với trẻ em chưa được cộng đồng chủ động phát hiện sớm và báo cho các cơ quan chức năng xử lý, can thiệp kịp thời vì họ không muốn có sự “rắc rối” liên quan đến họ. Trong khi đó, vai trò bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của gia đình, cộng đồng chưa được coi trọng, kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của cha mẹ, người chăm sóc trẻ và của chính bản thân trẻ chưa đầy đủ dẫn đến năng lực bảo vệ trẻ em của gia đình, cộng đồng còn hạn chế, trẻ em dễ trở thành nạn nhân của các hành vi bạo lực, xâm hại tình dục và dễ bị lôi kéo vào con đường phạm tội. Tình trạng nhiều gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; cha mẹ ly hôn, ly thân; cha mẹ mắc các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật… cũng là nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em bỏ học, lang thang kiếm sống và xâm hại. Nhận thức về bảo vệ trẻ em còn hạn chế thể hiện ở khía cạnh thiếu hiểu biết về luật pháp, về các hành vi vi phạm quyền trẻ em, dẫn đến tình trạng người thân trong gia đình xâm hại tình dục, bạo lực trẻ em[4] (khoảng 50% tổng số vụ vi phạm) và các thành viên khác trong xã hội phạm tội nghiêm trọng đối với trẻ em đến mức phải xử lý hình sự. Bên cạnh đó, các quy định xử lý của pháp luật chưa đủ mạnh, chưa đủ răn đe những người có hành vi bạo lực. Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trẻ em và sự can thiệp của các cơ có chức năng bảo vệ và giáo dục trẻ em và các cơ quan liên quan chưa thực sự xử lý kịp thời và thiếu quyết liệt[5]. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu về một số quyền cơ bản của trẻ em được quy định theo pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm ngăn chặn các hành vi bạo hành và xâm hại trẻ em. 2. Một số quy định cơ bản về quyền trẻ em theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam 2.1. Quyền trẻ em theo quy định của pháp luật quốc tế Trong Luật Nhân quyền quốc tế, quyền trẻ em được chế định chủ yếu trong Công ước về quyền trẻ em (CRC, năm 1989) và hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung CRC được thông qua năm 2000 (Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, Nghị định thư về sự tham gia của trẻ em trong xung đột vũ trang). Trong đó khái niệm “Trẻ em” được xác định là những người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, đây là một điều luật mở cho các quốc gia thành viên. Theo đó, các quốc gia thành viên có thể quy định các quyền trẻ em được bắt đầu ngay khi mang thai hay sau khi ra đời; và về độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi so với quy định của CRC. Quyền trẻ em được quy định dưới 04 dạng, trong đó 02 dạng đầu là quyền trực tiếp; hai dạng sau, tạm gọi là quyền gián tiếp hay quyền thụ động: - Quyền: được sống và phát triển, có họ tên và quốc tịch,... - Tự do (hay quyền cơ bản): tự do tiếp nhận thông tin, tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo,... - Trách nhiệm của cha mẹ và xã hội: thực hiện các quyền trẻ em, có quyền và nghĩa vụ định hướng và đưa ra những chỉ dẫn phù hợp,... - Bảo vệ của cha mẹ và xã hội: khỏi sự bóc lột và lạm dụng tình dục, khỏi bị mua bán và bắt cóc, khỏi bị tra tấn và tước đoạt tự do, khỏi ảnh hưởng của xung đột vũ trang,... Nội dung quyền trẻ em trong CRC được phân thành 04 nhóm:  a/ Nhóm quyền được sống hay được tồn tại (các Điều 5, 6, 24, 26, 27);  b/ nhóm quyền được bảo vệ (các Điều 2, 7, 8, 9, 10, 11, 16, 19, 20, 21, 22, 23, 25, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40);  c/ nhóm quyền được phát triển (các Điều 17, 18, 28, 29, 31, 32);  d/ nhóm quyền được tham gia (các Điều 12, 13, 14, 15, 17, 30). 2.2. Một số quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật của Việt Nam hiện hành[6]  Cùng với việc phát triển kinh tế, trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến bảo vệ các quyền trẻ em. Từ các bản Hiến pháp, các bộ luật, luật đến các văn bản dưới luật đã tạo thành một hệ thống pháp luật bảo vệ trẻ em phù hợp với các công ước quốc tế và truyền thống văn hoá của dân tộc. Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20/02/1990. Ở Việt Nam, quyền trẻ em đã được hiến định từ Hiến pháp năm 1946 (trực tiếp là các Điều 14, 15 và được hàm chứa trong một số điều khác) và trong tất cả các Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 (gồm cả lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2001), năm 2013. Hiến pháp năm 1992, quyền trẻ em được chế định trực tiếp trong Điều 40 và được hàm chứa trong một số điều khác. Hiến pháp năm 2013, quyền trẻ em được quy định trực tiếp tại khoản 1, Điều 37: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”. Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, quyền trẻ em cũng đã được thể chế hóa trong nhiều bộ luật và luật, mà tập trung là Luật Trẻ em năm 2016, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.... Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, các quyên trẻ em bao gồm: - Quyền được sống, được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển[7]. - Quyền được khai sinh và có quốc tịch[8]: Mọi trẻ em khi sinh ra đều có quyền được khai sinh. Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật. - Quyền được chăm sóc sức khỏe[9]: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh. Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập[10]. - Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng[11]: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội[12]; [13]; [14]; [15]; [16]; [17]; [18]; [19]. - Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu[20]: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân; được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh. Đối với bậc tiểu học trẻ em không phải đóng học phí. - Quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi[21]. - Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc[22]: (i) Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc điểm và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình; (ii) Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình. - Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em[23]. - Quyền về tài sản[24]: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật. Cha mẹ có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo quản lý, bảo vệ, định đoạt tài sản riêng của trẻ em[25] và đảm bảo quyền dân sự của trẻ em về tài sản. - Quyền bí mật đời sống riêng tư[26]: (i) Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; (ii) Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư. - Quyền được sống chung với cha, mẹ[27]: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự[28]. - Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ[29]: Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo Điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích. - Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi[30]: (i) Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em; (ii) Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi. - Quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục[31] - Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động[32] - Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em[33]. - Được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt[34] - Quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy[35] - Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính[36]:  (i) Được bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật;  (ii) không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác. - Quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang[37] - Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với Điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và Điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em[38]. - Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội[39] - Quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em và được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng[40] - Quyền của trẻ em khuyết tật[41]: Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội. - Quyền của trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên[42]. 3. Các chế tài hình sự xử lý đối với các hành vi bạo lực và xâm hại trẻ em theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2018 dành các điều luật và quy định khung hình phạt đối với các hành vi bạo lực, xâm hại và phạm tội với trẻ em như sau: Điểm b khoản 4, Điều 127. Tội làm chết; Điểm b, khoản 2 Điều 130, Tội bức tử; Điểm đ, khoản 2, Điều 133, Tội đe dọa giết người; Điểm e Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điểm c Điều 137. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ; Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; Điều 147. Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm; Điều; 148; Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng…  khung hình phạt đối với các tội này rất nghiêm khắc. 4. Một số giải pháp nhằm bảo vệ trẻ em trước các hành vi bạo hành và xâm hại Thứ nhất, triển khai thực hiện nghiêm các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Hôn nhân và gia đình… và các văn bản hướng dẫn thực hiện; ưu tiên bố trí nguồn lực để bảo đảm việc hỗ trợ, can thiệp cho trẻ em khi bị bạo lực, xâm hại... Tăng cường giáo dục kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em, đặc biệt về phòng ngừa xâm hại tình dục và bạo lực đối với trẻ em cho cha mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ, người trực tiếp làm việc với trẻ em và kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ mình trước các nguy cơ bị xâm hại cho trẻ em. Thứ hai, đối với các gia đình cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của cha mẹ và người thân nhằm xây dựng thiết chế gia đình bền vững. Để tránh những sự việc đau lòng do tội phạm xâm hại tình dục gây nên, cha mẹ cần thường xuyên để mắt, quan tâm, chia sẻ với con em mình để nhận thấy những thay đổi tâm, sinh lý cần thiết. Trang bị cho con biết cách thức phòng vệ trước những đối tượng có ý định thực hiện hành vi đồi bại. Không cho trẻ ăn mặc hở hang vì dễ gây kích thích sự ham muốn đối với những kẻ có ý xấu… Thứ ba, Ngành Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng môi trường sư phạm an toàn, lành mạnh, không có bạo lực, xâm hại trẻ em; tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Đặc biệt, tăng cường tuyên truyền, giáo dục kiến thức về giới và kỹ năng phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh tại các cơ sở giáo dục, trường học; kịp thời phát hiện các trường hợp học sinh có dấu hiệu bị bạo lực, xâm hại, thông báo, cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc điều tra, xử lý. Thứ tư, Ngành Y tế cần quan tâm phát triển hệ thống ý tế, các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc, tư vấn sức khỏe, hỗ trợ khẩn cấp cho trẻ em bị bạo lực, xâm hại; nâng cao năng lực, kỹ năng cho cán bộ y tế trong việc chăm sóc, tư vấn sức khỏe đối với trẻ em bị bạo lực, xâm hại. Thứ năm, các cơ quan báo chí, thông tin đại chúng cần dành thời lượng, chuyên mục, chuyên trang hợp lý để đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về phòng ngừa bạo lực, xâm hại trẻ em; tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kỹ năng về bảo vệ trẻ em, phòng ngừa bạo lực, xâm hại trẻ em; phát hiện, lên án các hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em và bảo đảm quyền bí mật thông tin của trẻ em. Thứ sáu, các cơ quan tố tụng cần kịp thời giải quyết và xử lý nghiêm các vụ việc bạo hành, xâm hại trẻ em, tránh để tồn đọng, không để kéo dài các hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi bao che, chậm trễ, cố tình kéo dài hoặc không xử lý các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em. Thứ bảy, cần tổ chức thực hiện tốt quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo và tố giác hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em; can thiệp, hỗ trợ kịp thời các trường hợp khi trẻ bị bạo lực, xâm hại; tuyên truyền, quảng bá về các số điện thoại khẩn 111 - Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em[43], đường dây Tư vấn và hỗ trợ trẻ em của Trung ương 18001567, đường giây nóng 113 và đường dây nóng của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để mọi cơ quan, tổ chức, người dân và trẻ em liên hệ miễn phí khi có nhu cầu tìm kiếm thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ và khi cần sự trợ giúp.  “Trẻ em như búp trên cành, là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước!”. Bởi vậy, việc “Tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ. Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu, loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực. Trợ giúp, phục hồi kịp thời cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, tạo cơ hội để các em được tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển”[44] là một trong những mục tiêu quan trọng, là mối quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước ta, của toàn xã hội và của mỗi gia đình. Vũ Hải Việt ________________________________________ [1]Xem một số vụ việc bạo hành và xâm hại trẻ em xẩy ra trong thời gian qua đã được quần chúng phát hiện và các báo, đài đưa tin: - Những vụ hành trẻ em chấn động dư luận thời gian qua - http://kienthuc.net.vn/event/bao-hanh-tre-em-209.html. - Hàng loạt vụ bạo lực ở trường mầm non gây phẫn nộ trong năm 2017 - http://www.doisongphapluat.com/cong-dong-mang/nhung-vu-bao-luc-o-truong-mam-non-trong-nam-2017-a210934.html. - Vụ bạo hành trẻ ở trường mầm non Mầm Xanh: Lời khai rùng mình của bảo mẫu - https://baomoi.com/vu-bao-hanh-tre-o-truong-mam-non-mam-xanh-loi-khai-rung-minh-cua-bao-mau/c/24092619.epi. [2]Xem bài: Trẻ em bị xâm hại vì khoảng trống của pháp luật - http://treem.molisa.gov.vn/SIte/vi-vn/13/367/17601/Default.aspx. [3]Những số liệu báo động về xâm hại tình dục trẻ em - http://phunuvietnam.vn/luat-doi/nhung-so-lieu-bao-dong-ve-xam-hai-tinh-duc-tre-em-post30673.html. [4] Rơi nước mắt với những đứa trẻ bị bố và mẹ kế bạo hành dã man - http://tintuconline.com.vn/xa-hoi/roi-nuoc-mat-voi-nhung-dua-tre-bi-bo-va-me-ke-bao-hanh-da-man-p0c1003n20171209101909100.vnn. [5] Dư luận bất bình vì nhiều vụ xâm hại trẻ em không được xử lý thỏa đáng -  http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/du-luan-bat-binh-vi-nhieu-vu-xam-hai-tre-em-khong-duoc-xu-ly-thoa-dang-20170316110143526.htm. [6]Hiến pháp năm 2013; Luật Trẻ em năm 2016, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung 2014… [7]  Điều 12 Luật Trẻ em năm 2016. [8]  Điều 13 Luật Trẻ em năm 2013. [9] Điều 14. Luật Trẻ em năm 2016. [10] Điểm e, khoản 3 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung 2014. [11] Điều 15. Luật Trẻ em năm 2016. [12] Khoản 1 Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [13] Khoản 2 Điều 69, khoản 3 Điều 70 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [14] Khoản 1 Điều 72 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [15] Khoản 2 Điều 72 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [16] Khoản 3 Điều 72 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [17] Khoản 1 Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [18] Điều 74 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [19] Khoản 4 Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. [20] Điều 16. Luật Trẻ em năm 2016. [21] Điều 17 Luật Trẻ em năm 2016. [22] Điều 18 Luật Trẻ em năm 2016. [23] Điều 19 Luật Trẻ em năm 2016. [24] Điều 20 Luật Trẻ em năm 2014. [25]Xem: Điều 76, 77 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [26] Điều 21 Luật Trẻ em năm 2016. [27] Điều 22 Luật Trẻ em năm 2016. [28] Khoản 4 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [29] Điều 23 Luật Trẻ em năm 2016. [30] Điều 24 Luật Trẻ em năm 2016. [31] Điều 25 Luật Trẻ em năm 2016 [32] Điều 26 Luật Trẻ em năm 2016. [33] Điều 27 Luật Trẻ em năm 2016. [34] Điều 28 Luật Trẻ em năm 2016. [35] Điều 29 Luật Trẻ em năm 2016 [36] Điều 30 Luật Trẻ em năm 2016. [37] Điều 31 Luật Trẻ em năm 2016. [38] Điều 32 Luật Trẻ em năm 2016. [39] Điều 33 Luật Trẻ em năm 2016. [40] Điều 34 Luật Trẻ em năm 2016 [41] Điều 35 Luật Trẻ em năm 2016. [42] Điều 36 Luật Trẻ em năm 2016. [43] Sáng 6/12, tại Hà Nội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Văn phòng Chính phủ đã công bố chính thức số điện thoại khẩn 111 - Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em - http://thoidai.com.vn/thoi-su/xa-hoi/111-tong-dai-dien-thoai-quoc-gia-bao-ve-tre-em_t114c4n70376. [44]Tiết a mục 1 Điều 1 Quyết định số 67/QĐ-TTg, ngày 22/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015. Link bài viết: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=412  
  Tóm tắt: Trẻ em luôn luôn là đối tượng cần phải được quan tâm và ưu tiên bảo vệ nhất trong xã hội. Đem đến một môi trường an toàn là cách tốt nhất để bảo vệ các em. Để có một môi trường an toàn thì hệ thống pháp luật là điều kiện tiên quyết, bên cạnh đó là sự chung tay của các cơ quan hành pháp, tư pháp, của hệ thống hỗ trợ - bảo vệ trẻ em cũng như những người làm việc trong đó. Đồng thời, không thể thiếu vai trò của gia đình, nhà trường, cộng đồng.  Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, mỗi năm trung bình cả nước có hơn 1.200 trẻ em bị xâm hại tình dục (chiếm hơn 60% số vụ xâm hại trẻ em - trong đó có những vụ bạo hành thể chất, tinh thần khác đối với các em). Đáng báo động hơn là hầu hết các vụ việc đó lại do những người thân thiết, quen biết của đứa trẻ gây ra. Họ đã lợi dụng sự tin tưởng của phụ huynh và đặc biệt là sự non nớt cả về thể chất và tinh thần của đứa trẻ để làm những việc phi nhân tính, gây ra những ảnh hưởng vô cùng khủng khiếp đối với các em. Hàng năm, các vụ việc bị phát hiện, xử lý đã phần nào đem lại sự công bằng, giảm bớt những tổn thương cho các em và ổn định cho xã hội. Tuy nhiên, làm thế nào để những tổn thương đó không xảy ra với các em mới thực sự là điều tốt nhất. 1. Trẻ em được bảo vệ bằng pháp luật Trẻ em là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần nhưng không phải là người không biết cảm nhận được về sự an toàn hay nguy hiểm. Do đó, khi trẻ được sống trong một môi trường được bảo vệ, trẻ sẽ được tự do phát triển lành mạnh, tự do học tập, vui chơi mà không phải đề phòng hay sợ hãi trước những mối nguy hiểm luôn rình rập, ập đến bất kỳ lúc nào và đương nhiên, trẻ sẽ có cơ hội phát triển hết khả năng, tài năng, trí lực và tình cảm trong sáng để đến với xã hội với những phẩm chất tốt đẹp. Pháp luật với tính bắt buộc chung có khả năng tác động đến tất cả các đối tượng điều chỉnh, với sức mạnh như những thước đo giá trị của cách hành xử nên pháp luật là một yếu tố quan trọng trong số các yếu tố có khả năng bảo vệ trẻ em. Một quốc gia, khi xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng thì pháp luật đó phải có tính tương thích với pháp luật quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Do đó, môi trường bảo vệ trẻ em hiệu quả nhất là môi trường đặt trong sự bảo vệ của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. 1.1 Trẻ em được bảo vệ bằng pháp luật quốc tế Việt Nam đã tham gia và nội luật hóa nhiều quy định từ các văn bản pháp luật quốc tế về quyền trẻ em. Trước hết là Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948. Tuyên ngôn “đòi hỏi sự tôn trọng nhân phẩm của con người, quyền tự do của mỗi người đồng thời đòi hỏi cả những nỗ lực liên tục ở mọi cấp độ để có thể hiện thực hóa việc hưởng các quyền con người trên phạm vi toàn cầu”1, và trẻ em phải được hưởng lợi từ tất cả những bảo đảm quyền con người dành cho người lớn Tiếp theo là Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989, Việt Nam phê chuẩn năm 1990, quy định trực tiếp các nguyên tắc bảo vệ quyền trẻ em như: nguyên tắc không phân biệt đối xử, bình đẳng về cơ hội, nguyên tắc lợi ích tốt nhất cho trẻ em và nguyên tắc quyền được sống, tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó, Công ước đã quy định rất nhiều quyền cơ bản của trẻ em buộc các quốc gia thành viên phải tôn trọng. Một số công ước khác mà Việt Nam tham gia cũng khẳng định trẻ em là một đối tượng được bảo vệ như Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966, nêu rõ “Các trẻ em… phải được gia đình, xã hội và quốc gia bảo hộ” (Điều 24); Công ước quốc tế về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 quy định “Thanh thiếu niên phải được bảo vệ chống mọi hình thức bóc lột về kinh tế và xã hội” (Điều 10); Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên hiệp quốc về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên năm 1985 (gọi tắt là Quy tắc Bắc Kinh) đã khẳng định “Áp dụng tư pháp đối với người chưa thành niên cần chú trọng đến phúc lợi của người chưa thành niên và phải bảo đảm rằng, bất cứ việc xét xử nào đối với người chưa thành niên phạm tội phải luôn xem xét hoàn cảnh của người phạm tội cũng như hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội” (Mục 5 Phần 1 - Những quy định chung). 1.2 Trẻ em được bảo vệ bằng pháp luật trong nước Cùng với việc từng bước nội luật hóa các quy định của các văn bản pháp luật quốc tế, Việt Nam đã sớm xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ trẻ em. Văn bản pháp lý trực tiếp quy định về bảo vệ trẻ em là Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 14/11/1979. Pháp lệnh này được nâng lên thành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 (được sửa đổi bổ sung năm 2004). Sau một thời gian thực hiện, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, tại kỳ họp thứ 11, ngày 5/4/2016, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Trẻ em. Luật Trẻ em năm 2016 đã mở rộng phạm vi trẻ em được bảo vệ là trẻ em dưới 16 tuổi nói chung trong đó bao gồm cả trẻ em có quốc tịch Việt Nam và trẻ em là người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Luật cũng chỉ rõ 14 hành vi vi phạm quyền trẻ em bị nghiêm cấm, như: nghiêm cấm hành vi tước đoạt quyền sống của trẻ em; nghiêm cấm hành vi bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em... (Điều 10). Luật Trẻ em không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục các em mà các vấn đề khác như bổn phận của các em, sự tham gia của các em về các vấn đề trẻ em, các cấp độ bảo vệ, chăm sóc thay thế cho trẻ, trách nhiệm thực hiện quyền trẻ em… cũng được quy định khá cụ thể và toàn diện. Ngoài ra, một số văn bản luật khác cũng điều chỉnh những đến vấn đề bảo vệ trẻ em trong từng lĩnh vực cụ thể. Bộ luật Dân sự năm 2015 điều chỉnh các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền được khai sinh, quyền được có họ, tên, quyền xác định lại dân tộc của trẻ em (từ Điều 26 đến Điều 30). Bên cạnh trường hợp trẻ em xác định được cha, mẹ thì Bộ luật cũng quy định đối với trường hợp trẻ bị bỏ rơi, chưa xác định được cha, mẹ để bảo vệ quyền nhân thân đối với các em có hoàn cảnh đặc biệt (Điều 26, Điều 30). Ngoài ra, để bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ trẻ em trong quan hệ pháp luật dân sự, trong hoạt động tố tụng dân sự, Bộ luật cũng xác định năng lực hành vi dân sự đối với người chưa thành niên, năng lực hành vi dân sự của trẻ em trong một số giao dịch dân sự mà các em được tự mình tham gia... (Điều 21). Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bằng quy định về quyền khởi kiện xác định cha, mẹ cho con là người chưa thành niên của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp Phụ nữ, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định cha, mẹ của trẻ em trong trường hợp các em bị thất lạc cha mẹ hoặc bị cha, mẹ chối bỏ (Điều 187). Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền lợi của trẻ em chưa thành niên, Bộ luật còn quy định về trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được tham gia tố tụng thông qua người đại diện; đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch bằng tài sản riêng mà trẻ đã xác lập hoặc tranh chấp phát sinh từ hợp đồng lao động mà trẻ tham gia, trẻ được tự mình khởi kiện để bảo vệ quyền lợi (khoản 6 Điều 69). Ngoài ra, để bảo vệ trẻ em trong hôn nhân và gia đình, Bộ luật còn bao hàm quy định bắt buộc phải xác định nguyên nhân phát sinh tranh chấp đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên (khoản 3 Điều 208). Bộ luật Lao động năm 2012 dành riêng một số quy định về lao động chưa thành niên như: cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định… (Điều 120); cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành (Điều 121). Các quy định này đã góp phần phòng ngừa các trường hợp bóc lột sức lao động trẻ em, buộc người sử dụng lao động sử dụng phải tôn trọng và đảm bảo các quyền lợi của trẻ em. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình nhằm hướng tới xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (Chương V - Quan hệ giữa cha, mẹ và con). Luật cũng chú ý bảo vệ quyền của trẻ em trong những vụ việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật và trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn (Điều 12 và Điều 14). Bên cạnh đó, nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, Luật còn ghi nhận nguyên tắc giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trẻ em từ đủ 7 tuổi có quyền được bày tỏ ý kiến mong muốn được sống chung với cha hoặc mẹ trong trường hợp cha mẹ ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con (Điều 81). Bộ luật Hình sự (BLHS) - một văn bản quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em - đã có những quy định cụ thể bảo vệ trẻ em trên hai phương diện: trẻ em là đối tượng tác động của tội phạm và trẻ em là chủ thể của tội phạm. Trên phương diện trẻ em là đối tượng tác động của tội phạm, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) đã thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước ta trong xử lý các tội phạm với trẻ em theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cụ thể, hành vi mua bán người dưới 16 tuổi có thể bị xử lý với mức cao nhất là tù chung thân (Điều 151); hành vi đánh tráo người dưới 01 tuổi (Điều 152) và hành vi chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153 BLHS) đều được xác định mức cao nhất là loại tội rất nghiêm trọng; hành vi xâm hại tình dục trẻ em, xâm hại đến danh dự nhân phẩm của trẻ em bị xử lý theo các tội như tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” (Điều 142), tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” (Điều 144), tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 145), tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” (Điều 146), tội “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm” (Điều 147), tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi” (Điều 329). Đây là nhóm hành vi gây ra những sang chấn tâm lý tiêu cực mạnh mẽ và có thể ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của trẻ nên đa phần được quy định là những tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 đã có những quy định mới thể hiện rõ hơn quan điểm bảo vệ quyền tự do và an ninh cá nhân cho trẻ em. Trong đó, đáng chú ý là các quy định như bổ sung hành vi “vứt bỏ con mới đẻ” là dấu hiệu định tội “Giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ” (Điều 124), bổ sung “thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác” bên cạnh hành vi giao cấu trong dấu hiệu định tội của các tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145) và hành vi “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm” (Điều 147)... BLHS năm 2015 cũng đã quy định cụ thể đối với người dưới 18 tuổi phạm tộitrên cơ sở kế thừa và sửa đổi, bổ sung chính sách xử lý hình sự đối với nhóm trẻ em này trong Chương XII - Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã một lần nữa khẳng định “xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội” (khoản 1 Điều 91). Bên cạnh việc quy định mới theo hướng thu hẹp phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của các đối tượng phạm tội này (khoản 2 Điều 12), BLHS năm 2015 còn mở rộng hơn phạm vi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội so với BLHS năm 1999 (Điều 91) và lần đầu tiên ghi nhận các biện pháp giám sát, giáo dục như khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã phường, thị trấn đối với trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự (Điều 92).... Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội nói chung và trẻ em phạm tội nói riêng được xem là một thủ tục đặc biệt. Thủ tục này đã tối đa hóa các yêu cầu để trẻ em không bị ảnh hưởng tâm lý và đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ. Trên tinh thần đó, Điều 415 Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2015 yêu cầu điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên và đây cũng là một trong những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa tham gia tố tụng; Điều 416 quy định: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bên cạnh việc xác định được các đối tượng cần chứng minh như các vụ án hình sự người đã thành niên phạm tội thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định thêm các đối tượng chứng minh đặc thù của người dưới 18 tuổi phạm tội nữa như mức độ nhận thức, điều kiện sống và giáo dục, nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội…   Ngoài ra, Bộ luật TTHS năm 2015 đã mở rộng đối tượng tiến hành tố tụng với tư cách là Hội thẩm. Theo đó, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên hoặc là người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi (khoản 1 Điều 423); trường hợp đặc biệt cần bảo vệ bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi thì Tòa án có thể quyết định xét xử kín (khoản 2 Điều 423); những người bắt buộc phải có mặt tham gia phiên tòa để trợ giúp tốt nhất cho bị cáo là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp những người này vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan, bao gồm: người đại diện của bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức nơi bị cáo học tập, sinh hoạt (khoản 3 Điều 423)… 2. Bảo vệ trẻ em với sự chung tay của nhiều chủ thể   Như đã nói, môi trường bảo vệ trẻ em hiệu quả nhất là môi trường đặt trong sự bảo vệ của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Bên cạnh đó, sự chung tay của các cơ quan tư pháp, của hệ thống hỗ trợ - bảo vệ trẻ em cũng như những người làm việc trong đó và các yếu tố gia đình, nhà trường, cộng đồng là những yếu tố then chốt cùng tạo nên một môi trường thực sự an toàn đối với trẻ em. 2.1 Các cơ quan tư pháp Với chức năng nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, cơ quan thi hành án - trong phạm vi quyền hạn của mình - có trách nhiệm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm quyền trẻ em trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật và nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất cho trẻ. Đặc biệt, các cơ quan này cần thực hiện nghiêm các quy định về người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại, đương sự… để đảm bảo các em được hỗ trợ về pháp lý, tâm lý. Xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật một cách công bằng vừa góp phần xoa dịu những thiệt hại mà các em phải gánh chịu, vừa có giá trị đấu tranh, phòng ngừa chung, đặc biệt là tạo được niềm tin cho người dân. Trẻ em - dù là chủ thể vi phạm pháp luật hay là nạn nhân - cũng đều được bảo vệ an toàn trên cơ sở các cơ quan tư pháp tôn trọng và thực thi pháp luật hiệu quả. Khi các em là nạn nhân, các em sẽ được các cơ quan tư pháp trả lại sự công bằng thông qua việc xử lý nghiêm những hành vi vi phạm đối với các em. Khi các em là chủ thể vi phạm pháp luật, các cơ quan tư pháp - với chức năng, nhiệm vụ của mình, trước tiên sẽ bảo đảm các quyền của các em được thực hiện, với nghiệp vụ sẽ tìm ra chứng cứ chứng minh đúng với mức độ vi phạm và những nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật của các em, từ đó áp dụng chế tài phù hợp và đúng với mục đích xử lý nhằm cải tạo, giáo dục các em. 2.2 Các tổ chức hỗ trợ - bảo vệ trẻ em và các chuyên gia Bảo vệ trẻ em không chỉ là việc cung cấp cho các em các dịch vụ hỗ trợ và can thiệp khi xảy ra việc vi phạm pháp luật, mà còn là việc phòng ngừa khả năng trẻ em vi phạm pháp luật hoặc khả năng các em trở thành nạn nhân của các hành vi vi phạm pháp luật. Có ba cấp độ phòng ngừa. Cấp độ phòng ngừa thứ ba hướng đến việc tiếp cận các em đã trở thành nạn nhân và các em đã vi phạm pháp luật để phòng ngừa khả năng các em bị xâm hại tiếp hoặc tái phạm. Cấp độ phòng ngừa thứ hai hướng đến việc tiếp cận các em có nguy cơ cao trở thành nạn nhân hoặc vi phạm pháp luật để hạn chế khả năng bị xâm hại cũng như khả năng vi phạm pháp luật của các em. Cấp độ phòng ngừa chính với cách tiếp cận phổ quát hướng đến việc ngăn chặn trẻ em trở thành nạn nhân hoặc trẻ em vi phạm pháp luật trước khi nó xảy ra. Trên thế giới, các quốc gia đều tập trung phát triển cấp độ phòng ngừa chính để giảm tối đa thiệt hại đối với trẻ em, cho dù các em là nạn nhân hay là chủ thể vi phạm pháp luật[1]. Thực hiện các biện pháp ở các cấp độ phòng ngừa này, vai trò của các tổ chức hỗ trợ - bảo vệ trẻ em và đặc biệt là các chuyên gia, các nhà hoạt động xã hội liên quan đến trẻ em là vô cùng quan trọng. Thông qua các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức về quyền trẻ em cho chính các em và cộng đồng, vận động và tạo cơ hội cho trẻ em tham gia ý kiến, phản biện các chủ trương, chương trình kế hoạch thực hiện quyền trẻ em; có những biện pháp tham vấn, trị liệu can thiệp, hỗ trợ kịp thời đối với những trường hợp cụ thể, khu vực cụ thể... góp phần ngăn chặn, phòng ngừa và trợ giúp cho các em có hoàn cảnh đặc biệt. Với các hoạt động của mình, các tổ chức bảo vệ - hỗ trợ trẻ em và chuyên gia không chỉ thể hiện tính nhân đạo mà còn là cầu nối trẻ em với các chủ thể khác trong xã hội, giúp các em ổn định tâm lý, tìm lại sự công bằng và bảo vệ lợi ích tốt nhất cho các em. 2.3 Gia đình Không nơi nào có thể bảo vệ quyền lợi của trẻ em tốt bằng chính gia đình các em. Tuy nhiên, đôi khi mối quan hệ giữa một đứa trẻ và gia đình của mình lại có thể bị phá vỡ, bị lệch lạc và tiềm ẩn nguy cơ xảy ra bạo lực gia đình. Do đó, để phòng ngừa sự xuất hiện các yếu tố nguy cơ biến trẻ em thành nạn nhân cũng như nguy cơ trẻ em vi phạm pháp luật, cần có các biện pháp và chiến lược để ngăn chặn, chống lại bạo lực gia đình.   Cha mẹ - bên cạnh việc duy trì nâng cao đời sống kinh tế gia đình, đảm bảo đời sống vật chất cho các con mình, duy trì nếp sống đạo đức của gia đình - phải thể hiện vai trò xã hội của mình một cách tốt nhất, tránh các hành vi vi phạm pháp luật để trẻ noi gương. Cha mẹ cần hướng dẫn cụ thể cho con cái nhận thức về hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời hướng cho các em có thái độ rõ ràng đối với các hành vi đó, từ đó xây dựng cho trẻ khả năng tự nhận biết và tự vệ.  Gia đình phải là nơi trẻ cảm nhận được sự an toàn cao nhất. Để đảm bảo điều đó, cha mẹ, các thành viên thành niên khác trong gia đình cần gần gũi trẻ để nắm bắt được sự thay đổi trong tâm lý cũng như phán đoán được những nguy cơ mà trẻ có thể bị xâm hại từ chính gia đình cũng như xã hội, từ đó có biện pháp cần thiết để bảo vệ trẻ. Các chương trình hướng dẫn nuôi dạy con cái cho các bậc phụ huynh nên được tổ chức thường xuyên để tăng cường sự tương tác giữa cha mẹ với con cái và xây dựng các chương trình thanh tra bất thường các ngôi nhà có trẻ em còn rất nhỏ. Đối với những trẻ em đã bị bạo lực gia đình, cần đưa các em đến với các mô hình “Ngôi nhà an toàn” để phòng ngừa khả năng các em tiếp tục bị xâm hại và ngăn chặn việc hình thành các nguy cơ dẫn đến các em trở thành chủ thể vi phạm pháp luật. 2.4 Trường học Các chương trình phòng ngừa dành riêng cho trẻ em bao gồm chương trình liên quan đến giáo dục và các hoạt động tích cực là một cách phổ biến thực hiện việc ngăn chặn hành vi chống đối xã hội. Hướng dẫn Riyadh nhấn mạnh rằng, hệ thống giáo dục đang là một biện pháp tốt nhất để giúp trẻ em có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi xã hội; các chương trình hỗ trợ, can thiệp cho trẻ em chỉ thực sự tốt khi được thực hiện đồng thời trong gia đình và nhà trường[2]. Trường học trang bị cho các em những kiến thức văn hóa, xã hội, các kỹ năng sống để các em có thể nhận thức được cách hành xử phù hợp với đạo đức và pháp luật. Bên cạnh đó cần trang bị cho các em các kiến thức về quyền và bổn phận của các em cũng như các kỹ năng tự vệ, nhận biết các nguy cơ có thể dẫn đến việc các em bị xâm hại và biết cách xử lý nó. Để làm được điều đó, cần gắn kết học sinh với giáo viên, giáo viên không chỉ là người thầy mà còn là người bạn với các em để các em tin tưởng, chia sẻ suy nghĩ và tình cảm, qua đó giáo viên nắm bắt được tâm lý cũng như có thể cùng các em tìm ra cách giải quyết tốt nhất cho những vướng mắc trong cuộc sống, ổn định tâm lý lứa tuổi cho các em và xử lý những nguy cơ biến các em trở thành nạn nhân cũng như định hướng kịp thời những hành vi, suy nghĩ lệch chuẩn của các em. Ngoài ra, nhà trường cũng cần tạo mối quan hệ gắn kết với gia đình của các em, xây dựng cho các em những mối quan hệ bạn bè tốt trong lớp, trong trường, tránh mọi hành vi kỳ thị, phân biệt và gây áp lực đối với các em, để trẻ em thực sự cảm thấy được an toàn từ trong suy nghĩ của mình. 2.5 Cộng đồng dân cư Cộng đồng có thể giúp các em hình thành nhân cách tốt nhưng cũng có thể là tác nhân đưa đến những suy nghĩ, hành vi tiêu cực cho các em. Chính vì vậy, cần xây dựng các dịch vụ và các chương trình cộng đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu, các vấn đề, lợi ích và mối quan tâm đặc biệt của các em và trong đó, riêng hoạt động tư vấn và hướng dẫn cho trẻ em và gia đình của họ cần được phát triển, hoặc củng cố tại chính cộng đồng - nơi họ sinh sống, để kịp thời cung cấp thông tin cũng như có những biện pháp hỗ trợ, can thiệp. Các vụ việc xâm hại trẻ em cho thấy, nhiều vụ đã xuất phát từ chính những người sống cùng một cộng đồng dân cư với các em. Đó là một cộng đồng không an toàn với trẻ. Cần thiết phải có các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức bảo vệ trẻ em đến tất cả cộng đồng dân cư; xây dựng tinh thần phát giác, đấu tranh và ý thức bảo vệ trẻ em mọi lúc, mọi nơi của mọi người dân trong cộng đồng để trẻ được an toàn khi sống, tiếp xúc với những con người trong môi trường hàng ngày của các em. Bên cạnh mục tiêu giảm tối đa khả năng trẻ bị xâm hại thì việc phục hồi lại cuộc sống, hướng đến sự phát triển bình thường và đưa các em tái hòa nhập cộng đồng là mục tiêu quan trọng của các chương trình hoạt động vì trẻ em. Việc chung tay bảo vệ các em là nạn nhân hay là chủ thể vi phạm pháp luật chỉ thực sự có giá trị khi các em được hòa nhập cộng đồng như những trẻ em bình thường khác. Do đó, cộng đồng cần tránh mọi kỳ thị, phân biệt đối xử, bình phẩm, xa lánh… làm tổn thương các em; tạo điều kiện tối đa cho các em được tham gia các hoạt động cộng đồng, giúp các em lấy lại tự tin và vượt qua được hoàn cảnh đặc biệt trước đó. Trẻ em luôn luôn là đối tượng cần phải được quan tâm và ưu tiên bảo vệ nhất trong xã hội. Đem đến một môi trường an toàn một cách toàn diện là cách tốt nhất để bảo vệ các em./. Vũ Thị Phượng, ThS.,NCS., Khoa Luật, Trường Đại học Công đoàn. ______________________________________ [1] Xem: “Bảo vệ quyền của trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự” (Protecting children’s rights in criminal juctice systems) - Cuốn sổ tay đào tạo và tham chiếu cho các chuyên gia và hoạch định chính sách, do UKaid và Penal Reform International phát hành năm 2013, tr.27 [2]Xem: “Bảo vệ quyền của trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự” tlđd, tr.46 Link bài viết: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/bao-ve-tre-em-bang-phap-luat-va-su-chung-tay-cua-nhieu-chu-the    
Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ nhận ra và sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội. Chính vì vậy, thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định thành một chương riêng (Chương XXXII) trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 nhằm đảm bảo thủ tục tố tụng quy định phù hợp với lứa tuổi này[1]. Đây là một thủ tục tố tụng đặc biệt, khi tiến hành tố tụng, cần lưu ý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, hết sức cẩn trọng và tỉ mỉ, tránh làm tổn thương họ và tạo điều kiện để họ có thái độ hợp tác trong tố tụng. Trong những năm gần đây, vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi được đề cao và được các cơ quan tiến hành tố tụng nghiêm chỉnh chấp hành. Trải qua hơn 10 năm thi hành, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã đạt được những thành tựu đáng kể. Mặc dù vậy, đứng trước yêu cầu đổi mới, thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung toàn diện để bảo đảm việc xử lý người chưa thành niên phạm tội được khách quan, chính xác, nhân đạo hơn, thể hiện đúng đắn chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong tình hình mới[2]. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 cũng dành riêng Chương XXVIII với tên gọi Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Về cơ bản đã có những sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) phạm tội, phù hợp, thống nhất với các quy định của Bộ luật hình sự về xử lý trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đáp ứng tốt các yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trên cơ sở thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, theo chúng tôi còn những điểm vướng mắc mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa giải quyết được, vẫn còn một số điểm chưa chính xác, hợp lý, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Mặt khác, người dưới 18 tuổi có thể là bị hại, người làm chứng, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ phân tích những vướng mắc trong thủ tục tố tụng với người dưới 18 tuổi khi họ tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tố tụng trong quá trình giải quyết loại án này. 1. Giai đoạn điều tra vụ án, truy tố Thứ nhất, về người tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi[3] Để việc điều tra vụ án hình sự có bị can là người dưới 18 tuổi thực sự hiệu quả thì Điều tra viên ngoài chuyên môn nghiệp vụ phải có hiểu biết về tâm sinh lí học, khoa học giáo dục về người dưới 18 tuổi. Tại Điều 415 Bộ luật Tố tụng năm 2015 quy định người tiến hành tố tụng phải có hiểu biết cần thiết về người dưới 18 tuổi nhưng như thế nào là “cần thiết”, là đủ để có thể giải quyết vụ án thì còn rất chung chung, mơ hồ. Trên thực tế, việc phân công cán bộ điều tra vụ án của cơ quan điều tra hầu như không có sự phân biệt giữa vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi với người đã đủ 18 tuổi. Trong quá trình điều tra, điều tra viên thường chỉ tập trung làm rõ hành vi phạm tội mà không chú ý đến việc điều tra về nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội cũng như vấn đề nhân thân, điều kiện giáo dục của nhà trường dẫn đến tình trạng điều tra viên mặc nhiên coi bị can là đối tượng xấu nên đã miệt thị, quát mắng thậm chí đe doạ, đánh đập bị can. Thực tiễn này đòi hỏi cần có quy định cụ thể về tiêu chuẩn của điều tra viên khi tiến hành tố tụng với người dưới 18 tuổi, bao gồm cả chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức tâm lý, khoa học giáo dục với người dưới 18 tuổi. Khi phân công cán bộ điều tra trong vụ án mà bị can là người dưới 18 tuổi, cơ quan điều tra cần phân công những cán bộ thực sự có hiểu biết về tâm sinh lí, có kiến thức khoa học về độ tuổi này để bị can không bị áp lực hay căng thẳng ngay từ giai đoạn điều tra vụ án. Mặt khác, người tiến hành tố tụng bao gồm: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, điều tra viên, cán bộ điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên, kiểm tra viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, thẩm phán, hội thẩm, thư ký Tòa án, thẩm tra viên[4]. Theo chúng tôi, việc bổ sung chủ thể theo quy định của Điều 415 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là chưa đầy đủ, khi giải quyết các vụ án có người chưa thành niên, còn có thể có sự tham gia của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Để đầy đủ, bao quát hơn, phải thay cụm từ “người tiến thành tố tụng” thành “người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”. Thứ hai, quy định việc bắt quả tang người dưới 18 tuổi phạm tội Quy định như khoản 2, 3 Điều 419 là rất khó thực hiện trên thực tế[5]. Bởi người có thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang rất khó để xác định tuổi cũng như loại tội phạm tại thời điểm bắt người[6]. Nếu chờ có đủ các căn cứ quy định tại khoản 2, 3 Điều 419 thì quy định về việc bắt người dưới 18 tuội phạm tội quả tang sẽ mất đi ý nghĩa. Do đó, chúng tôi kiến nghị bỏ quy định về các điều kiện áp dụng biện pháp bắt quả tang tại điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thứ ba, việc hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định tại khoản 2 Điều 421: “Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của họ” và cần bổ sung thêm nếu người bào chữa, người đại diện vắng mặt thì việc hỏi cung phải bị hoãn trừ trường hợp họ cố tình trốn tránh. Như vậy sẽ đảm bảo thủ tục tố tụng được chặt chẽ, bảo vệ được tối đa quyền lợi của bị can là người dưới 18 tuổi. Trong giai đoạn điều tra, bị can rất cần đến sự hiện diện và trợ giúp của người bào chữa ở những thời điểm như khi nhận tống đạt quyết định khởi tố bị can, khi bị hỏi cung lần đầu tiên, khi bị can có lời khai nhận tội, khi bị bắt giam, bị khám xét…[7]. Cùng với việc quy định bắt buộc phải có mặt người bào chữa, người đại diện của người dưới 18 tuổi phạm tội cần quy định rõ cách xử lý khi những chủ thể này vắng mặt, nếu chủ thể này vắng mặt thì việc hỏi cung sẽ bị hoãn. Tại khoản 5 Điều 421 quy định “Thời gian hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi không quá 02 lần trong một ngày và mỗi lần không quá 02 giờ”, quy định này là tương đối chặt chẽ nhưng cần bổ sung giữa hai lần hỏi cung phải cách nhau ít nhất hai giờ để tránh tình trạng điều tra viên hỏi cung liên tục thông qua giờ trưa, bỏ đói bị can làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, tinh thần của họ. Ngoài ra, có một hạn chế lớn tại nhiều cơ quan điều tra vẫn chưa khắc phục được, đó là cơ sở vật chất phục vụ cho việc hỏi cung, cụ thể là phòng hỏi cung hầu như đến thời điểm hiện tại người dưới 18 tuổi vẫn bị hỏi cung ở các phòng chung với người đã đủ 18 tuổi. Việc bài trí phòng hỏi cung sao cho phù hợp cũng rất quan trọng. Người dưới 18 tuổi rất dễ có tâm lý sợ sệt, hoang mang cùng với không khí hỏi cung sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc khai báo của người dưới 18 tuổi. Theo đó, Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần được bổ sung như sau: “Điều 421. Lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can; đối chất ……………………….. 2. Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có người bào chữa, người đại diện. Việc lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ tham dự. Nếu người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi vắng mặt có lí do chính đáng thì việc hỏi cung, lấy lời khai phải bị hoãn. 5. Thời gian hỏi cung đối với bị can là người dưới 18 tuổi không quá 02 lần trong một ngày, mỗi lần không quá 02 giờ và khoảng cách tối thiểu giữa hai lần hỏi cung là 02 giờ.” Thứ tư, về thời hạn điều tra vụ án mà bị can là người dưới 18 tuổi  Từ các quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho thấy rõ ràng mức độ trách nhiệm hình sự mà người dưới 18 tuổi phải chịu thấp hơn nhiều so với người đã đủ 18 tuổi nhưng thời hạn điều tra vụ án thì vẫn ngang nhau. Một điểm rất tiến bộ của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đó là quy định giảm thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi chỉ còn hai phần ba thời hạn đối với người đã đủ 18 tuổi, do đó cũng cần giảm cả thời hạn điều tra vụ án. Công ước về quyền trẻ em năm 1989 ghi nhận: “Không trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tuỳ tiện. Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành theo pháp luật và chỉ dược dùng như biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”[8]. Cần có căn cứ pháp lý cụ thể quy định về thời hạn tố tụng với người dưới 18 tuổi ngắn hơn người đã đủ 18 tuổi để đảm bảo tốt hơn quyền lợi của họ và cũng để cơ quan điều tra không trì hoãn nhiều lần việc giải quyết vụ án với người dưới 18 tuổi. Theo quan điểm của chúng tôi, cần rút ngắn thời hạn này, và có quy định hạn chế việc gia hạn điều tra nhiều lần, đảm bảo vụ án phải được giải quyết nhanh chóng mà vẫn đảm bảo tính chính xác, khách quan. 2. Trong giai doạn xét xử Thứ nhất, về thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm Khoản 1 Điều 423 quy định: “Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm phải có một hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi”. Theo đó, hội thẩm bắt buộc phải thoả mãn hai điều kiện: Một là phải là hội thẩm do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, hai là phải đồng thời là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên. Nhưng điều luật không quy định cụ thể tại thời điểm thành lập hội đồng xét xử hay tại thời điểm xét xử có bắt buộc hội thẩm là giáo viên hay cán bộ Đoàn hay không. Nếu tại thời điểm bầu hội thẩm, người đó còn là giáo viên, cán bộ Đoàn nhưng đến khi xét xử họ không còn đảm đương công việc như vậy thì có được chấp nhận hay không. Những năm qua, theo hướng dẫn của Thông tư 01/2011 thì chỉ cần hội thẩm đó đang hoặc đã từng là giáo viên, cán bộ Đoàn. Tuy nhiên, nếu tại thời điểm xét xử họ đã chuyển sang công tác khác thì cũng ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của vụ án. Mặt khác, thực tế cho thấy khi tham gia Hội đồng xét xử, Hội thẩm thường nghiên cứu hồ sơ rất muộn, họ không quan tâm vụ án có bị cáo là người dưới 18 tuổi hay không. Ra đến phiên toà, thẩm phán thường là người hỏi chính còn hội thẩm ít tham gia xét hỏi, có chăng thường lặp lại những nội dung mà trước đó thẩm phán đã hỏi. Đến khi ra bản án, hội thẩm phụ thuộc rất nhiều vào phán quyết của thẩm phán. Hầu hết các hội thẩm đều kiêm nhiệm những vị trí khác trong cơ quan nhà nước, họ không thực sự có chuyên môn về pháp luật nên rất khó đưa ra được ý kiến độc lập. Từ đó thấy được bản thân hội thẩm còn bộc lộ nhiều thiếu sót, không thể hiện được đúng vai trò của mình. Họ không thể hiện được mình là người có kiến thức về tâm sinh lí, khoa học giáo dục người dưới 18 tuổi nên càng khó bảo vệ quyền, lợi ích của người dưới 18 tuổi và thực sự khiến họ ăn năn hối cải, sửa chữa sai lầm. Thẩm phán là người có vai trò hết sức quan trọng trong phiên xét xử, phong cách làm việc của thẩm phán trước toà cũng có tác động rất lớn đến bị cáo là người dưới 18 tuổi. Thực tế, phần lớn thẩm phán khi tiến hành xét xử những vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi không khác gì với xét xử người đã đủ 18 tuổi, còn sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên môn thiếu gần gũi, không giải thích cho bị cáo hiểu dẫn đến bị cáo cảm thấy sợ sệt không khai báo hoặc có những phản ứng tiêu cực khác ảnh hưởng đến việc xác minh sự thật của vụ án. Nhìn từ góc độ pháp lý, quy định tại khoản 1 Điều 423 là rất phù hợp nhưng trên thực tế lại không đòi hỏi phải chứng minh sự bắt buộc đó về thành phần hội đồng xét xử dẫn đến tình trạng tại nhiều phiên toà không hề có hội thẩm là giáo viên hay cán bộ đoàn, toà án cấp sơ thẩm lại thể hiện trong bản án là có. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng việc xét xử, xâm hại nghiêm trọng đến quyền lợi của bị cáo là người dưới 18 tuổi. Theo ý kiến của tác giả, cũng cần có những hướng dẫn cụ thể về mức độ hiểu biết cũng như kinh nghiệm của hội thẩm khi tham gia xét xử để bảo vệ được tốt nhất quyền lợi của bị cáo. Khi Toà gia đình và người dưới 18 tuổi đi vào hoạt động, cần có cách bài trí, sắp xếp sao cho phù hợp, thân thiện. Nên bố trí phòng xử án như phòng họp, chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng được sắp xếp ở những vị trí ngồi ngang bằng nhau, không để bị cáo phải đứng trước vành móng ngựa. Trong quá trình xét xử, hội đồng xét xử nên dùng những từ ngữ dễ hiểu và phải thường xuyên giải thích cho bị cáo hiểu về các quy định của pháp luật cũng như mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của mình gây ra. Nên quy định xét xử kín là một thủ tục bắt buộc trong trường hợp bị cáo là người dưới 18 tuổi, có như vậy mới tránh được tâm lý quá nặng nề, xấu hổ, tội lỗi cho bị cáo. Bên cạnh đó, Ngành Toà án cũng cần thường xuyên tổ chức những lớp bồi dưỡng thêm cho thẩm phán và hội thẩm về tâm sinh lí, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi để họ thực sự cảm thông và cảm hoá được người dưới 18 tuổi có hành vi phạm tội. Thứ hai, quy định về trường hợp được xét xử kín  “Trong trường hợp đặc biệt cần bảo vệ bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi thì Toà án có thể quyết định xét xử kín”. Toà án có quyền xét xử kín nhưng chưa thực sự cụ thể các trường hợp đó dẫn đến thực tế việc xét xử kín bị cáo là người dưới 18 tuổi được áp dụng không thống nhất, các phiên xét xử của toà án hầu hết là công khai, nhiều vụ án còn được xử lưu động. Người dân và phóng viên báo chí được tự do vào dự, viết bào đưa tin về nội dung vụ án, nêu rõ danh tính bị cáo, kể cả những vụ án xâm hại tình dục mà bị báo, bị hại đều là người dưới 18 tuổi. Điều này để lại tác động rất xấu đến sự phát triển sau này của họ, khiến họ mang nặng cảm giác xấu hổ và bị kì thị. Thứ ba, việc bài trí trong phòng xử án còn chưa thực sự phù hợp với bị cáo là người dưới 18 tuổi  Bị cáo vẫn phải đứng trước vành móng ngựa, đối diện với hội đồng xét xử khiến tâm lý bị căng thẳng, lo lắng. Ngoài ra, thực tiễn vẫn còn những vụ án xét xử người dưới 18 tuổi mà không có mặt người đại diện của họ. Họ vắng mặt có lý do chính đáng nhưng phiên xét xử vẫn tiến hành mà không bị hoãn. Đây là vi phạm pháp luật nghiêm trọng trên thực tế và cần sớm được khắc phục.   Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi một cách toàn diện và tổng thể, bổ sung thêm nhiều quy định mới rất đáng ghi nhận trong đó có quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mới bước đầu phân tích một số vướng mắc trên cơ sở nhìn lại thực tiễn công tác áp dụng pháp luật trong những năm vừa qua. Việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015  hướng đến mục đích giải quyết được triệt để các vụ án có liên quan đến người dưới 18 tuổi, nhất là khi họ đóng vai trò là bị can, bị cáo nhưng mục đích cuối cùng không phải nhằm trừng trị họ mà nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội và giảm số lượng vụ án mà người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi./. ThS. Nguyễn Thị Lan Anh Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  ________________________________________ [1]. Vũ Văn Hùng, Huỳnh Thị Kim Ánh, “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự hiện hành về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12 năm 2013. [2]. PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên), “Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015”, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2016. [3] Điều 415 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 [4]. Xem Điều 34 Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015. [5] Điều 419… “2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112, các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật này; 3. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định tại các Điều 110, 111 và 112, các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật này”. [6]. Vũ Văn Hùng, Huỳnh Thị Kim Ánh, “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2013. [7]. Nguyễn Thái Phúc, “Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lí, số 4/2007, tr. 41.  [8] Xem Điểm b Điều 37 Công ước về quyền trẻ em năm 1989 Link bài viết: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=414  
Tóm tắt: Người khuyết tật có quyền tiếp cận các công trình công cộng, tham gia giao thông bởi đó là những phương tiện để họ hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên tình hình thực hiện chính sách bảo đảm người khuyết tật tiếp cận công trình công cộng và phương tiện giao thông còn hạn chế, vì vậy cần có những giải pháp khắc phục trong thời gian tới. 
Sự phát triển của đất nước trong tương lai luôn luôn phụ thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày hôm nay. Đây là một công việc đòi hỏi kết hợp sự nỗ lực của gia đình, nhà trường và xã hội không chỉ ở quy mô quốc gia mà cả ở quy mô quốc tế. Muốn làm tốt công tác này, trước hết cần có chủ trương chính sách đúng đắn ở tầm vĩ mô. Sau đó là cách triển khai thực hiện rốt ráo, có bài bản ở cơ sở.

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật