Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ nhận ra và sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội. Chính vì vậy, thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định thành một chương riêng (Chương XXXII) trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 nhằm đảm bảo thủ tục tố tụng quy định phù hợp với lứa tuổi này[1]. Đây là một thủ tục tố tụng đặc biệt, khi tiến hành tố tụng, cần lưu ý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, hết sức cẩn trọng và tỉ mỉ, tránh làm tổn thương họ và tạo điều kiện để họ có thái độ hợp tác trong tố tụng. Trong những năm gần đây, vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi được đề cao và được các cơ quan tiến hành tố tụng nghiêm chỉnh chấp hành. Trải qua hơn 10 năm thi hành, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã đạt được những thành tựu đáng kể. Mặc dù vậy, đứng trước yêu cầu đổi mới, thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung toàn diện để bảo đảm việc xử lý người chưa thành niên phạm tội được khách quan, chính xác, nhân đạo hơn, thể hiện đúng đắn chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong tình hình mới[2]. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 cũng dành riêng Chương XXVIII với tên gọi Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Về cơ bản đã có những sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) phạm tội, phù hợp, thống nhất với các quy định của Bộ luật hình sự về xử lý trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đáp ứng tốt các yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trên cơ sở thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, theo chúng tôi còn những điểm vướng mắc mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa giải quyết được, vẫn còn một số điểm chưa chính xác, hợp lý, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Mặt khác, người dưới 18 tuổi có thể là bị hại, người làm chứng, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ phân tích những vướng mắc trong thủ tục tố tụng với người dưới 18 tuổi khi họ tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tố tụng trong quá trình giải quyết loại án này. 1. Giai đoạn điều tra vụ án, truy tố Thứ nhất, về người tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi[3] Để việc điều tra vụ án hình sự có bị can là người dưới 18 tuổi thực sự hiệu quả thì Điều tra viên ngoài chuyên môn nghiệp vụ phải có hiểu biết về tâm sinh lí học, khoa học giáo dục về người dưới 18 tuổi. Tại Điều 415 Bộ luật Tố tụng năm 2015 quy định người tiến hành tố tụng phải có hiểu biết cần thiết về người dưới 18 tuổi nhưng như thế nào là “cần thiết”, là đủ để có thể giải quyết vụ án thì còn rất chung chung, mơ hồ. Trên thực tế, việc phân công cán bộ điều tra vụ án của cơ quan điều tra hầu như không có sự phân biệt giữa vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi với người đã đủ 18 tuổi. Trong quá trình điều tra, điều tra viên thường chỉ tập trung làm rõ hành vi phạm tội mà không chú ý đến việc điều tra về nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội cũng như vấn đề nhân thân, điều kiện giáo dục của nhà trường dẫn đến tình trạng điều tra viên mặc nhiên coi bị can là đối tượng xấu nên đã miệt thị, quát mắng thậm chí đe doạ, đánh đập bị can. Thực tiễn này đòi hỏi cần có quy định cụ thể về tiêu chuẩn của điều tra viên khi tiến hành tố tụng với người dưới 18 tuổi, bao gồm cả chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức tâm lý, khoa học giáo dục với người dưới 18 tuổi. Khi phân công cán bộ điều tra trong vụ án mà bị can là người dưới 18 tuổi, cơ quan điều tra cần phân công những cán bộ thực sự có hiểu biết về tâm sinh lí, có kiến thức khoa học về độ tuổi này để bị can không bị áp lực hay căng thẳng ngay từ giai đoạn điều tra vụ án. Mặt khác, người tiến hành tố tụng bao gồm: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, điều tra viên, cán bộ điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên, kiểm tra viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, thẩm phán, hội thẩm, thư ký Tòa án, thẩm tra viên[4]. Theo chúng tôi, việc bổ sung chủ thể theo quy định của Điều 415 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là chưa đầy đủ, khi giải quyết các vụ án có người chưa thành niên, còn có thể có sự tham gia của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Để đầy đủ, bao quát hơn, phải thay cụm từ “người tiến thành tố tụng” thành “người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”. Thứ hai, quy định việc bắt quả tang người dưới 18 tuổi phạm tội Quy định như khoản 2, 3 Điều 419 là rất khó thực hiện trên thực tế[5]. Bởi người có thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang rất khó để xác định tuổi cũng như loại tội phạm tại thời điểm bắt người[6]. Nếu chờ có đủ các căn cứ quy định tại khoản 2, 3 Điều 419 thì quy định về việc bắt người dưới 18 tuội phạm tội quả tang sẽ mất đi ý nghĩa. Do đó, chúng tôi kiến nghị bỏ quy định về các điều kiện áp dụng biện pháp bắt quả tang tại điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thứ ba, việc hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định tại khoản 2 Điều 421: “Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của họ” và cần bổ sung thêm nếu người bào chữa, người đại diện vắng mặt thì việc hỏi cung phải bị hoãn trừ trường hợp họ cố tình trốn tránh. Như vậy sẽ đảm bảo thủ tục tố tụng được chặt chẽ, bảo vệ được tối đa quyền lợi của bị can là người dưới 18 tuổi. Trong giai đoạn điều tra, bị can rất cần đến sự hiện diện và trợ giúp của người bào chữa ở những thời điểm như khi nhận tống đạt quyết định khởi tố bị can, khi bị hỏi cung lần đầu tiên, khi bị can có lời khai nhận tội, khi bị bắt giam, bị khám xét…[7]. Cùng với việc quy định bắt buộc phải có mặt người bào chữa, người đại diện của người dưới 18 tuổi phạm tội cần quy định rõ cách xử lý khi những chủ thể này vắng mặt, nếu chủ thể này vắng mặt thì việc hỏi cung sẽ bị hoãn. Tại khoản 5 Điều 421 quy định “Thời gian hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi không quá 02 lần trong một ngày và mỗi lần không quá 02 giờ”, quy định này là tương đối chặt chẽ nhưng cần bổ sung giữa hai lần hỏi cung phải cách nhau ít nhất hai giờ để tránh tình trạng điều tra viên hỏi cung liên tục thông qua giờ trưa, bỏ đói bị can làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, tinh thần của họ. Ngoài ra, có một hạn chế lớn tại nhiều cơ quan điều tra vẫn chưa khắc phục được, đó là cơ sở vật chất phục vụ cho việc hỏi cung, cụ thể là phòng hỏi cung hầu như đến thời điểm hiện tại người dưới 18 tuổi vẫn bị hỏi cung ở các phòng chung với người đã đủ 18 tuổi. Việc bài trí phòng hỏi cung sao cho phù hợp cũng rất quan trọng. Người dưới 18 tuổi rất dễ có tâm lý sợ sệt, hoang mang cùng với không khí hỏi cung sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc khai báo của người dưới 18 tuổi. Theo đó, Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần được bổ sung như sau: “Điều 421. Lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can; đối chất ……………………….. 2. Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có người bào chữa, người đại diện. Việc lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ tham dự. Nếu người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi vắng mặt có lí do chính đáng thì việc hỏi cung, lấy lời khai phải bị hoãn. 5. Thời gian hỏi cung đối với bị can là người dưới 18 tuổi không quá 02 lần trong một ngày, mỗi lần không quá 02 giờ và khoảng cách tối thiểu giữa hai lần hỏi cung là 02 giờ.” Thứ tư, về thời hạn điều tra vụ án mà bị can là người dưới 18 tuổi  Từ các quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho thấy rõ ràng mức độ trách nhiệm hình sự mà người dưới 18 tuổi phải chịu thấp hơn nhiều so với người đã đủ 18 tuổi nhưng thời hạn điều tra vụ án thì vẫn ngang nhau. Một điểm rất tiến bộ của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đó là quy định giảm thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi chỉ còn hai phần ba thời hạn đối với người đã đủ 18 tuổi, do đó cũng cần giảm cả thời hạn điều tra vụ án. Công ước về quyền trẻ em năm 1989 ghi nhận: “Không trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tuỳ tiện. Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành theo pháp luật và chỉ dược dùng như biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”[8]. Cần có căn cứ pháp lý cụ thể quy định về thời hạn tố tụng với người dưới 18 tuổi ngắn hơn người đã đủ 18 tuổi để đảm bảo tốt hơn quyền lợi của họ và cũng để cơ quan điều tra không trì hoãn nhiều lần việc giải quyết vụ án với người dưới 18 tuổi. Theo quan điểm của chúng tôi, cần rút ngắn thời hạn này, và có quy định hạn chế việc gia hạn điều tra nhiều lần, đảm bảo vụ án phải được giải quyết nhanh chóng mà vẫn đảm bảo tính chính xác, khách quan. 2. Trong giai doạn xét xử Thứ nhất, về thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm Khoản 1 Điều 423 quy định: “Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm phải có một hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi”. Theo đó, hội thẩm bắt buộc phải thoả mãn hai điều kiện: Một là phải là hội thẩm do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, hai là phải đồng thời là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên. Nhưng điều luật không quy định cụ thể tại thời điểm thành lập hội đồng xét xử hay tại thời điểm xét xử có bắt buộc hội thẩm là giáo viên hay cán bộ Đoàn hay không. Nếu tại thời điểm bầu hội thẩm, người đó còn là giáo viên, cán bộ Đoàn nhưng đến khi xét xử họ không còn đảm đương công việc như vậy thì có được chấp nhận hay không. Những năm qua, theo hướng dẫn của Thông tư 01/2011 thì chỉ cần hội thẩm đó đang hoặc đã từng là giáo viên, cán bộ Đoàn. Tuy nhiên, nếu tại thời điểm xét xử họ đã chuyển sang công tác khác thì cũng ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của vụ án. Mặt khác, thực tế cho thấy khi tham gia Hội đồng xét xử, Hội thẩm thường nghiên cứu hồ sơ rất muộn, họ không quan tâm vụ án có bị cáo là người dưới 18 tuổi hay không. Ra đến phiên toà, thẩm phán thường là người hỏi chính còn hội thẩm ít tham gia xét hỏi, có chăng thường lặp lại những nội dung mà trước đó thẩm phán đã hỏi. Đến khi ra bản án, hội thẩm phụ thuộc rất nhiều vào phán quyết của thẩm phán. Hầu hết các hội thẩm đều kiêm nhiệm những vị trí khác trong cơ quan nhà nước, họ không thực sự có chuyên môn về pháp luật nên rất khó đưa ra được ý kiến độc lập. Từ đó thấy được bản thân hội thẩm còn bộc lộ nhiều thiếu sót, không thể hiện được đúng vai trò của mình. Họ không thể hiện được mình là người có kiến thức về tâm sinh lí, khoa học giáo dục người dưới 18 tuổi nên càng khó bảo vệ quyền, lợi ích của người dưới 18 tuổi và thực sự khiến họ ăn năn hối cải, sửa chữa sai lầm. Thẩm phán là người có vai trò hết sức quan trọng trong phiên xét xử, phong cách làm việc của thẩm phán trước toà cũng có tác động rất lớn đến bị cáo là người dưới 18 tuổi. Thực tế, phần lớn thẩm phán khi tiến hành xét xử những vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi không khác gì với xét xử người đã đủ 18 tuổi, còn sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên môn thiếu gần gũi, không giải thích cho bị cáo hiểu dẫn đến bị cáo cảm thấy sợ sệt không khai báo hoặc có những phản ứng tiêu cực khác ảnh hưởng đến việc xác minh sự thật của vụ án. Nhìn từ góc độ pháp lý, quy định tại khoản 1 Điều 423 là rất phù hợp nhưng trên thực tế lại không đòi hỏi phải chứng minh sự bắt buộc đó về thành phần hội đồng xét xử dẫn đến tình trạng tại nhiều phiên toà không hề có hội thẩm là giáo viên hay cán bộ đoàn, toà án cấp sơ thẩm lại thể hiện trong bản án là có. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng việc xét xử, xâm hại nghiêm trọng đến quyền lợi của bị cáo là người dưới 18 tuổi. Theo ý kiến của tác giả, cũng cần có những hướng dẫn cụ thể về mức độ hiểu biết cũng như kinh nghiệm của hội thẩm khi tham gia xét xử để bảo vệ được tốt nhất quyền lợi của bị cáo. Khi Toà gia đình và người dưới 18 tuổi đi vào hoạt động, cần có cách bài trí, sắp xếp sao cho phù hợp, thân thiện. Nên bố trí phòng xử án như phòng họp, chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng được sắp xếp ở những vị trí ngồi ngang bằng nhau, không để bị cáo phải đứng trước vành móng ngựa. Trong quá trình xét xử, hội đồng xét xử nên dùng những từ ngữ dễ hiểu và phải thường xuyên giải thích cho bị cáo hiểu về các quy định của pháp luật cũng như mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của mình gây ra. Nên quy định xét xử kín là một thủ tục bắt buộc trong trường hợp bị cáo là người dưới 18 tuổi, có như vậy mới tránh được tâm lý quá nặng nề, xấu hổ, tội lỗi cho bị cáo. Bên cạnh đó, Ngành Toà án cũng cần thường xuyên tổ chức những lớp bồi dưỡng thêm cho thẩm phán và hội thẩm về tâm sinh lí, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi để họ thực sự cảm thông và cảm hoá được người dưới 18 tuổi có hành vi phạm tội. Thứ hai, quy định về trường hợp được xét xử kín  “Trong trường hợp đặc biệt cần bảo vệ bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi thì Toà án có thể quyết định xét xử kín”. Toà án có quyền xét xử kín nhưng chưa thực sự cụ thể các trường hợp đó dẫn đến thực tế việc xét xử kín bị cáo là người dưới 18 tuổi được áp dụng không thống nhất, các phiên xét xử của toà án hầu hết là công khai, nhiều vụ án còn được xử lưu động. Người dân và phóng viên báo chí được tự do vào dự, viết bào đưa tin về nội dung vụ án, nêu rõ danh tính bị cáo, kể cả những vụ án xâm hại tình dục mà bị báo, bị hại đều là người dưới 18 tuổi. Điều này để lại tác động rất xấu đến sự phát triển sau này của họ, khiến họ mang nặng cảm giác xấu hổ và bị kì thị. Thứ ba, việc bài trí trong phòng xử án còn chưa thực sự phù hợp với bị cáo là người dưới 18 tuổi  Bị cáo vẫn phải đứng trước vành móng ngựa, đối diện với hội đồng xét xử khiến tâm lý bị căng thẳng, lo lắng. Ngoài ra, thực tiễn vẫn còn những vụ án xét xử người dưới 18 tuổi mà không có mặt người đại diện của họ. Họ vắng mặt có lý do chính đáng nhưng phiên xét xử vẫn tiến hành mà không bị hoãn. Đây là vi phạm pháp luật nghiêm trọng trên thực tế và cần sớm được khắc phục.   Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi một cách toàn diện và tổng thể, bổ sung thêm nhiều quy định mới rất đáng ghi nhận trong đó có quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mới bước đầu phân tích một số vướng mắc trên cơ sở nhìn lại thực tiễn công tác áp dụng pháp luật trong những năm vừa qua. Việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015  hướng đến mục đích giải quyết được triệt để các vụ án có liên quan đến người dưới 18 tuổi, nhất là khi họ đóng vai trò là bị can, bị cáo nhưng mục đích cuối cùng không phải nhằm trừng trị họ mà nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội và giảm số lượng vụ án mà người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi./. ThS. Nguyễn Thị Lan Anh Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  ________________________________________ [1]. Vũ Văn Hùng, Huỳnh Thị Kim Ánh, “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự hiện hành về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12 năm 2013. [2]. PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên), “Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015”, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2016. [3] Điều 415 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 [4]. Xem Điều 34 Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015. [5] Điều 419… “2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112, các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật này; 3. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định tại các Điều 110, 111 và 112, các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật này”. [6]. Vũ Văn Hùng, Huỳnh Thị Kim Ánh, “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2013. [7]. Nguyễn Thái Phúc, “Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lí, số 4/2007, tr. 41.  [8] Xem Điểm b Điều 37 Công ước về quyền trẻ em năm 1989 Link bài viết: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=414  
Tóm tắt: Người khuyết tật có quyền tiếp cận các công trình công cộng, tham gia giao thông bởi đó là những phương tiện để họ hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên tình hình thực hiện chính sách bảo đảm người khuyết tật tiếp cận công trình công cộng và phương tiện giao thông còn hạn chế, vì vậy cần có những giải pháp khắc phục trong thời gian tới. 
Sự phát triển của đất nước trong tương lai luôn luôn phụ thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày hôm nay. Đây là một công việc đòi hỏi kết hợp sự nỗ lực của gia đình, nhà trường và xã hội không chỉ ở quy mô quốc gia mà cả ở quy mô quốc tế. Muốn làm tốt công tác này, trước hết cần có chủ trương chính sách đúng đắn ở tầm vĩ mô. Sau đó là cách triển khai thực hiện rốt ráo, có bài bản ở cơ sở.
Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của tổ chức đoàn thể, cơ sở giáo dục, gia đình và cá nhân trong đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của trẻ em. Trên cơ sở hệ thống hoá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề này, kết hợp với phân tích thực trạng, tác giả đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của các chủ thể trong đảm bảo thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em.
Cho đến nay, ở Việt Nam, quan điểm và cách thức xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền chủ yếu tập trung vào xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền trong tổ chức bộ máy và tổ chức vận hành của Nhà nước, mà hầu như chưa chú ý đúng mức đến việc xây dựng thể chế pháp quyền của công dân với vai trò là nền móng và mục đích tổ chức, hoạt động của Nhà nước pháp quyền.
Tóm tắt: Bài viết phân tích quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của trẻ em trong pháp luật hình sự các nước, từ đó so sánh dưới góc độ lập pháp với các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành.
1. Nội dung của bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành quyết định hành chính Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Nhà nước tạo điều kiện cho công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội”. Quy định này của Hiến pháp tuy không đề cập cụ thể quyền tham gia vào quá trình ban hành quyết định hành chính (QĐHC), nhưng với cách hiểu ban hành QĐHC là một hoạt động của quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính thì có thể khẳng định: tham gia vào quá trình ban hành QĐHC là một trong những nội dung của quyền tham gia vào quản lý nhà nước. Nội dung của bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành QĐHC bao gồm: bảo đảm quyền tham gia đề xuất ban hành QĐHC; bảo đảm quyền được thông tin về việc ban hành QĐHC; bảo đảm quyền được tham vấn ý kiến về nội dung của QĐHC và về các vấn đề nảy sinh trong quá trình ban hành QĐHC và bảo đảm quyền khiếu nại đối với những nội dung của QĐHC. Đề xuất ban hành QĐHC là giai đoạn đầu tiên của quá trình ban hành QĐHC. Đề xuất ban hành QĐHC được hiểu là những ý tưởng, ý kiến về ban hành QĐHC. Tham gia đề xuất ban hành QĐHC tức là người dân được đưa ra ý tưởng của mình về việc ban hành một QĐHC. Do đó, bảo đảm quyền tham gia đề xuất ban hành QĐHC là bảo đảm việc tiếp nhận các ý tưởng của người dân về việc ban hành QĐHC và nỗ lực biến các ý tưởng đó thành kế hoạch ban hành QĐHC. Trên thực tế, người dân có thể có rất nhiều ý kiến, ý tưởng khác nhau về cùng một vấn đề. Chất lượng của các ý tưởng này cũng khác nhau tùy thuộc vào trình độ nhận thức, kiến thức và kinh nghiệm của mỗi người. Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền là tiếp nhận các đề xuất này, tổng hợp và tiếp thu một cách tối đa để đưa ra kế hoạch ban hành QĐHC. Như vậy, đánh giá việc người dân có được bảo đảm quyền tham gia đề xuất ban hành QĐHC hay không không phụ thuộc vào kết quả đề xuất đó có được chấp nhận hay không, mà phụ thuộc vào cách thức và thái độ tiếp nhận đề xuất đó. Để bảo đảm quyền tham gia đề xuất ban hành QĐHC thì quy định pháp luật cần chú ý đến quy trình tiếp nhận và xử lý các đề xuất nêu trên. Bên cạnh việc tham gia đề xuất ban hành QĐHC thì việc được thông tin về việc ban hành QĐHC có ý nghĩa quan trọng đối với cả những cá nhân tham gia đề xuất và những cá nhân không tham gia đề xuất. Chẳng hạn, việc phổ biến thông tin về ban hành những QĐHC có liên quan đến lợi ích cộng đồng là cần thiết bởi QĐHC sau khi được ban hành sẽ có ảnh hưởng không chỉ tới cá nhân mà còn tới cả cộng đồng. Ngoài ra, đối với các QĐHC bất lợi cho đối tượng thi hành hoặc cho người thứ ba thì việc thông tin là bắt buộc để đảm bảo quyền lợi cho họ. Do vậy, bảo đảm quyền được thông tin về việc ban hành QĐHC được hiểu là những người có liên quan được gửi thông báo bằng các hình thức khác nhau (phương tiện thông tin đại chúng, bưu điện, thư điện tử, điện thoại) và được chắc chắn rằng những người này nhận được thông tin. Kể từ thời điểm nhận được thông tin về việc ban hành QĐHC, người dân bắt đầu tham gia một cách chủ động vào quá trình ban hành QĐHC. Tiếp theo, giai đoạn quan trọng của quá trình ban hành QĐHC và có ảnh hưởng tới chất lượng QĐHC đó là tham vấn ý kiến về nội dung của QĐHC và về các vấn đề nảy sinh trong quá trình ban hành QĐHC. Tham vấn ý kiến là việc hỏi ý kiến, tham khảo ý kiến về một vấn đề nào đó. Việc hỏi ý kiến này có thể được thực hiện bằng các hình thức đa dạng như: Phiếu điều tra, bảng hỏi, tổ chức cuộc họp, trưng cầu ý kiến trên phương tiện thông tin đại chúng... Càng có nhiều ý kiến, chất lượng của dự thảo QĐHC càng cao và việc ban hành QĐHC càng đạt hiệu quả tốt. Tuy nhiên, việc tham vấn ý kiến có tốt hay không không những phụ thuộc vào quá trình tổ chức lấy ý kiến mà còn vào cách thức, thái độ tiếp thu các ý kiến này. Như vậy, bảo đảm cho người dân được tham vấn ý kiến trong quá trình ban hành QĐHC là bảo đảm các điều kiện cho họ được tham gia đóng góp ý kiến và đảm bảo việc tổ chức tổng hợp, tiếp thu các ý kiến đó một cách nghiêm túc. Cuối cùng, quá trình ban hành QĐHC về cơ bản sẽ kết thúc khi một QĐHC được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, sau khi QĐHC được ban hành, người dân vẫn có quyền khiếu nại và được giải quyết khiếu nại[1]. Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 giải thích “khiếu nại là việc người dân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại QĐHC …khi có căn cứ cho rằng quyết định đó… trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.  Kết quả của quá trình giải quyết khiếu nại là hoặc giữ nguyên QĐHC cũ để thi hành hoặc thay đổi nội dung của QĐHC cho phù hợp. Ở trường hợp thứ hai, việc ban hành QĐHC vẫn tiếp tục được diễn ra. Với ý nghĩa đó, đảm bảo quyền khiếu nại đối với QĐHC sau khi QĐHC được ban hành, theo chúng tôi, được coi là của sự bảo đảm trong quá trình ban hành QĐHC. Với nội dung nêu trên, việc đảm bảo cho người dân tham gia vào quá trình ban hành QĐHC vừa đảm bảo quyền tham gia vào quản lý nhà nước theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và các Công ước quốc tế về Quyền con người, vừa góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đảm bảo dân chủ, công khai và minh bạch trong quản lý hành chính. 2. Những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành quyết định hành chính Thứ nhất, ở một số lĩnh vực, quy định của luật chuyên ngành về sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành QĐHC còn thiếu, chưa thống nhất về hình thức, nội dung thể hiện. Nhìn chung, pháp luật chuyên ngành không quy định trực tiếp trách nhiệm của Nhà nước, quyền của người dân trong bảo đảm tham gia vào quá trình ban hành QĐHC, mà chỉ quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc thông báo QĐHC cho đối tượng chịu tác động và quyền khiếu nại, khởi kiện QĐHC của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Một số luật có quy định thêm về quyền được yêu cầu giải thích, cung cấp thông tin về xử phạt hành vi vi phạm trong quá trình ban hành QĐHC như là một trong những biện pháp đảm bảo. Ví dụ, các Điều 28, 204 và 208 Luật Đất đai năm 2013 quy định về (1) Trách nhiệm của Nhà nước trong việc thông báo QĐHC trong lĩnh vực quản lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp (Điều 28)[2]; (2) Quyền khiếu nại, khởi kiện QĐHC của người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất (Điều 204)[3]; (3) Xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi vi phạm (Điều 208)[4]; Luật Xây dựng năm 2014 quy định trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc lấy ý kiến về quy hoạch xây dựng (Điều 16 và 17), quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm trong việc cấp phép xây dựng của người dân (Điều 106); Luật Quản lý thuế năm 2006 quy định người nộp thuế được quyền “khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (Điều 6), cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm “Giải thích, cung cấp thông tin....”; “Giải quyết khiếu nại, tố cáo...” và “Giao kết luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra..., giải thích khi có yêu cầu”(Điều 8); Luật Đầu tư năm 2014 quy định: “Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở hoạt động đầu tư kinh doanh, có hành vi sách nhiễu, gây phiền hà đối với nhà đầu tư, không thực thi công vụ theo quy định của pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” (Khoản 2, Điều 73)... Thứ hai, các quy định của pháp luật chuyên ngành chưa đảm bảo quyền của người dân tham gia vào quá trình ban hành QĐHC ngay từ giai đoạn soạn thảo dự thảo QĐHC Điều 28 Luật Đất đai năm 2013 đã quy định về việc thông báo về QĐHC cho đối tượng có liên quan. Nhưng điều luật chưa làm rõ QĐHC này được thông báo khi đã ban hành hay khi đang trong quá trình xây dựng Dự thảo. Trong trường hợp QĐHC đã được ban hành và ký bởi người có thẩm quyền rồi mới thông báo cho người có liên quan thì chưa đảm bảo được sự tham gia của người dân (trước hết là người chịu tác động) vào quá trình ban hành QĐHC này. Hay Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện đối với QĐHC trong lĩnh vực đất đai - một trong những phương pháp bảo đảm quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu tác động của QĐHC - nhưng phương pháp này chưa thực sự hiệu quả đối với quá trình ban hành QĐHC do chỉ được thực hiện ở giai đoạn sau khi QĐHC được ban hành. Theo các quy định của các Điều 6, 8 Luật Quản lý thuế năm 2006, người dân có quyền yêu cầu giải thích về kết luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế. Tuy nhiên, quy trình giải thích, biện pháp xử lý đối với cán bộ không thực hiện yêu cầu giải thích của người dân ra sao thì chưa được pháp luật quy định cụ thể. Quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 về quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại QĐHC khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Điều 1) chỉ đảm bảo được cho người dân tham gia có ý kiến một cách bị động sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành QĐHC. Thứ ba, chưa có biện pháp  xử lý kỷ luật đối với  hành vi thờ ơ hay cản trở sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành QĐHC Điều 208 của Luật Đất Đai năm 2013 đã có quy định về việc xử lý người có thẩm quyền có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục ban hành QĐHC. Tuy nhiên, đối với hành vi không tiếp thu, giải trình đối với ý kiến của nhân dân hoặc hành vi cản trở việc tham gia của người dân có bị xử lý hay không, biện pháp khắc phục hậu quả thế nào… vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ. Tương tự, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014 chỉ quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền mà không xác định hình thức xử lý đối với trường hợp không hoàn thành trách nhiệm đó.  3. Một số kiến nghị Chúng tôi cho rằng, để bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình ban hành QĐHC, cần thực hiện một số giải pháp sau đây: Thứ nhất, cần đẩy nhanh quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hành chính nói chung và về ban hành QĐHC nói riêng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho người dân thực hiện quyền tham gia của mình vào quá trình ban hành QĐHC. Do đó, việc nhanh chóng xem xét đưa Dự án Luật Ban hành QĐHC vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hoặc nghiên cứu bổ sung các quy định này vào luật có liên quan là cần thiết; Thứ hai, cần xác định mục tiêu của việc xây dựng các quy định của pháp luật về ban hành QĐHC theo hướng: (1) Tăng cường khả năng thực hiện và bảo đảm quyền tham gia của người dân vào quản lý nhà nước bằng các quy định của pháp luật; (2) Thống nhất và cụ thể hóa các quy định của pháp luật về quy trình ban hành QĐHC và về mức độ, nội dung tham gia của người dân vào quá trình ban hành QĐHC; Thứ ba, làm rõ một số nội dung như: về quá trình ban hành QĐHC; về thông tin trong quá trình ban hành QĐHC; về tham vấn ý kiến của cá nhân, tổ chức có liên quan; về hành vi vi phạm trong quá trình ban hành QĐHC bị xử lý trách nhiệm./. ThS.Trần Hà Thu  Trung tâm Thông tin Khoa học lập pháp, Viện Nghiên cứu Lập pháp   ________________________________________ [1] Luật Khiếu nại năm 2011 quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với QĐHC. [2] Khoản 3 Điều 28 Luật Đất đai 2013 quy định Nhà nước có trách nhiệm “Thông báo QĐHC, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp” [3] Điều 204 Luật Đất đai 2013 về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai quy định:” Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện QĐHC hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai”; “Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại QĐHC… thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện QĐHC về đất đai được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính”. [4] Điều 208 Luật Đất đai 2013 quy định xử lý đối với các hành vi “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của pháp luật trong ra QĐHC trong quản lý đất đai” và “Vi phạm các quy định về lấy ý kiến, công bố, công khai thông tin; vi phạm quy định trình tự, thủ tục hành chính; vi phạm quy định về báo cáo trong quản lý đất đai”.   Link bài viết: http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010070/0/38659/Bao_dam_su_tham_gia_cua_nguoi_dan_vao_qua_trinh_ban_hanh_quyet_dinh_hanh_chinh  
Theo dự báo của Liên Hiệp quốc, số người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) trên khắp thế giới sẽ tăng từ 760 triệu trong năm 2010 lên khoảng 2 tỷ người vào năm 2050 (tức là từ 11% lên 22% tổng dân số thế giới). Nếu như vào năm 1990, tỷ lệ người cao tuổi ở nước ta chỉ chiếm 7,2% dân số thì đến năm 2011, tỷ lệ này là 10%, chính thức bắt đầu giai đoạn “già hóa dân số”. Theo dự báo, đến năm 2038, người cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm 20% tổng dân số - tăng gấp ba lần trong vòng 24 năm. Như vậy, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ “già trước khi giàu”, khi tốc độ già hóa dân số tiếp tục tăng nhanh trong khi tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người mới ở mức trung bình thấp (khoảng 2.000 đô la Mỹ), các chính sách an sinh xã hội dành cho người cao tuổi chưa thực sự hoàn chỉnh và chủ động để hướng đến đón nhận hiện tượng già hóa dân số tích cực. Thực tế cho thấy, quyền được đối xử bình đẳng, được tôn trọng, chăm sóc, bảo vệ và thụ hưởng các phúc lợi trong hệ thống an sinh xã hội của người cao tuổi là đòi hỏi chính đáng và cũng là mục tiêu đặt ra cho những người xây dựng chính sách người cao tuổi. Tuy nhiên, chính sách cho người cao tuổi trong bối cảnh dân số Việt Nam đang già hóa mạnh mẽ cũng cần có những căn cứ pháp lý vững chắc, tức là các nội dung, định hướng, giải pháp chính sách được Hiến định. Đây không chỉ là hình thức bộc lộ nội dung của chính sách người cao tuổi mà cốt lõi là phương thức, căn cứ, hiệu lực pháp lý vững chắc đảm bảo thực thi thành công mục tiêu, giải pháp giải quyết vấn đề già hóa dân số và các vấn đề phát sinh liên quan người cao tuổi ở nước ta. Các bản Hiến pháp nước ta đều xuyên suốt thể hiện tư duy nhất quán: người cao tuổi cần thiết phải được hỗ trợ, giúp đỡ trước hết về mặt vật chất. Hỗ trợ này có thể là chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng, chính sách hỗ trợ chi phí mua BHXH, BHYT, cứu trợ, bảo trợ,…bằng hệ thống ngân sách nhà nước hoặc nguồn tài chính khác. Tuy nhiên, do công tác này liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào nguồn ngân sách, tài chính nên dẫn đến một số vấn đề phát sinh: Theo khảo sát của các cơ quan nghiên cứu phân tích chính sách, sau hơn 08 năm thực hiện Luật Người cao tuổi và 4 năm thực hiện Hiến pháp 2013, mức độ đáp ứng các quyền kinh tế (vật chất - xã hội) của người cao tuổi ở nước ta đạt từ 50 - 60%, gần 90% người cao tuổi được đảm bảo nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở. Đến hết năm 2016, cả nước có khoảng 1,5 triệu người cao tuổi được hưởng chính sách bảo trợ hằng tháng, chiếm đến 77% trong tổng số đối tượng được nhận trợ cấp xã hội hằng tháng; hàng nghìn người cao tuổi được hỗ trợ xóa nhà tạm, sữa chửa nâng cấp nhà ở, tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho hơn 1 triệu người cao tuổi, thăm hỏi, động viên ốm đau cho hơn 900.000 người cao tuổi.  Tuổi thọ dân số Việt Nam tăng lên phản ánh thành tựu kinh tế - xã hội, nhất là lĩnh vực y tế. Tuy nhiên, điều kiện sống, mức sống đa số người cao tuổi nước ta còn khá thấp, sức khỏe kém, tuổi thọ khỏe mạnh nước ta chưa cao, mỗi người cao tuổi chịu 14 năm bệnh tật, 95% người cao tuổi có bệnh và trung bình là 2,69 căn bệnh/ người…. Từ năm 2009 đến nay, các chương trình khám chữa bệnh đã tư vấn các bệnh về mắt cho hơn 2 triệu người cao tuổi, trong đó có 200.000 người được mổ tủy tinh thể miễn phí gần 400 tỉ đồng. Theo báo cáo tổng quan của ngành y tế số lượng người cao tuổi có thẻ BHYT tăng từ 24,3% năm 2004 lên 63% năm 2006, các hoạt động khám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi có thẻ BHYT được thực hiện hiệu quả, chất lượng phục vụ tốt hơn, nhiều địa phương có chủ trương thành lập quỹ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi có nhiều điểm mới: chăm sóc tại nhà, chăm sóc tại cơ sở tập trung và chăm sóc dựa vào cộng đồng… Tuy nhiên, việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi thời gian qua cũng đứng trước các thách thức lớn. Chất lượng các loại dịch vụ y tế, khám chữa bệnh có thẻ BHYT, vấn đề y đức, tiêu cực trong ngành y tế,… có tác động tiêu cực đến thực hiện quyền được đảm bảo chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi nếu xem đây là lực lượng yếu thế trong xã hội. Tỉ lệ người cao tuổi đến khám, chữa bệnh và được lập hồ sơ quản lý sức khỏe định kỳ tại tuyến cơ sở rất thấp, nhiều bệnh viên tuyến huyện chưa thành lập được khoa lão khoa, công tác cải cách thủ tục hành chính của ngành y tế còn chậm. Ngoài việc được đảm bảo hỗ trợ, chia sẻ về vật chất, đảm bảo sức khỏe thì người cao tuổi được quyền tham gia, tiếp cận với các loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch, nghỉ mát, các hoạt động khác bồi bổ, nâng cao đời sống tinh thần cho người cao tuổi, sự quan tâm, thăm hỏi, động viên, chúc thọ người cao tuổi.... Tính đến hết năm 2016, cả nước có 58.099 câu lạc bộ người cao tuổi, thu hút 2,6 triệu người cao tuổi tham gia, góp phần nâng cao sức khỏe, tinh thần và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các tổ chức này chính là tính hình thức hay hành chính hóa, chưa đem lại lợi ích thiết thực, ý nghĩa, thậm chí mang tính phong trào. Đánh giá việc đảm bảo quyền được chăm lo về đời sống tinh thần, chỉ có 8,6% người cao tuổi đánh giá nó được thực hiện mức độ tốt, rất tốt; 54,7% cho rằng chính sách này không được thực hiện tốt ở địa phương. Người cao tuổi được quyền được xã hội thừa nhận, tôn trọng và khẳng định vị thế, đây là quyền rất tiến bộ và rất mới của người cao tuổi được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận. Có thể thấy, đây vừa là quyền nhưng cũng là nhu cầu tất yếu của người cao tuổi. Quyền này được hiểu chính là việc người cao tuổi với đầy đủ phẩm chất, kỹ năng, năng lực,… được xã hội coi trọng, ghi nhận và bản thân người cao tuổi sử dụng nó để góp phần tiếp tục công hiến cho xã hội. Theo kết quả khảo sát của các cơ quan nghiên cứu cho thấy, có hơn 2,5 triệu người cao tuổi vẫn đang tham gia lao động, sản xuất kinh doanh; 95.000 người cao tuổi làm trang trại, cơ sở sản xuất, kinh doanh; hơn 300.000 nghìn người cao tuổi làm kinh tế giỏi; 1,24 triệu người cao tuổi nghỉ hưu vẫn tham gia công tác trong hệ thống chính trị tại nơi cư trú. Nhằm củng cố, phát huy quyền con người, quyền công dân người cao tuổi theo Hiến pháp Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về người cao tuổi theo các định hướng: Thứ nhất, nghiên cứu thấu đáo, có luận cứ khoa học hợp lí, thuyết phục để xác định rõ diện người cao tuổi hưởng trợ cấp, cân nhắc tổng thể nguồn lực và hiện trạng xã hội,… mở rộng đối tượng thụ hưởng trợ cấp xã hội so với hiện tại; tạo hành lang pháp lý khuyến khích huy động nguồn lực xã hội và các loại hình tổ chức tư nhân, phi chính phủ tham gia thực hiện chính sách người cao tuổi; hệ thống chính sách pháp luật người cao tuổi cần đảm bảo tuân thủ nguyên tắc hệ thống, đầy đủ về số lượng, có chất lượng, công bằng, minh bạch và đúng luật. Hai là, nghiên cứu và có cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội, huy động nguồn lực của khu vực tư (tăng cường xã hội hóa) trong việc giải quyết các vấn đề lớn trong chính sách người cao tuổi, góp phần đảm bảo khắc phục khó khăn hiện tại ngân sách cho các khoản trợ cấp, phục vụ thiết lập Qũy người cao tuổi tại các địa phương, mở rộng diện thụ hưởng nhận hỗ trợ vật chất cho người cao tuổi... Đặc biệt, coi trọng phát triển, nhân rộng mô hình tham vấn, hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi thông qua vai trò của cộng đồng, xã hội và các tổ chức hành nghề công tác xã hội. Ba là,đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước trong lĩnh vực y tế, trong đó, chú trọng đến việc cải cách thủ tục liên quan cung ứng dịch vụ y tế cho người cao tuổi, chấn chỉnh trách nhiệm công vụ, nâng cao y đức của đội ngũ y bác sĩ. Đặc biệt, cần có chiến lược quy hoạch tổng thể ngành y để thích ứng với vấn đề già hóa dân số của Việt Nam hiện nay. Trong đó, cần quan tâm xây dựng nguồn nhân lực ngành y chất lượng, có phẩm chất nhằm đảm bảo cung ứng dịch vụ y tế, hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát sinh khi già hóa dân số. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật như Viện Lão học, viện dưỡng lão, trung tâm chăm sóc người cao tuổi,…và trang bị tri thức để công động và xã hội thích ứng với già hóa dân số một cách tích cực. Bốn là,các nhà hoạch định chính sách cần nghiên cứu, tham vấn để ban hành chiến lược về tận dụng, sử dụng nguồn nhân lực từ đội ngũ người cao tuổi đảm bảo khoa học hợp lí. Như phân tích trên, với tinh thần “tuổi cao chí càng cao”, người cao tuổi ngày càng có vai trò quan trọng, trở thành nguồn lực đắc giá trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Do vậy, các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch định, tham vấn chính sách người cao tuổi cần đặt chính sách thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn lực người cao tuổi trong tổng thể chính sách người cao tuổi ở nước ta. Năm là, các cơ quan chức năng, cơ quan truyền thông, và đoàn thể chính trị - xã hội thường xuyên quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách người cao tuổi của Nhà nước đến đội ngũ người cao tuổi. Việc nhận thức đầy đủ về thách thức già hóa dân số của người dân có tác động tích cực trong việc kéo dài thời gian già hóa dân số, cân bằng cơ cấu dân số quốc gia thông qua chiến lược dân số, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe,… Bên cạnh đó, cần nhận thức rõ ràng rằng, trong hoạt động của các cơ quan này, cần xem việc chăm lo người cao tuổi cùng toàn xã hội là trách nhiệm, là hành vi đạo đức và gìn giữ truyền thống dân tộc Việt Nam bên cạnh nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm công vụ. Sáu là, tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế trong thực hiện chính sách người cao tuổi và thích ứng với vấn đề già hóa dân số ở nước ta. Việt Nam cần tranh thủ mối quan hệ hợp tác quốc tế với các quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong ứng phó chủ động với vấn đề già hóa dân số, thực hiện tốt chính sách người cao tuổi nhằm sẻ chia kiến thức, học tập mô hình, kinh nghiệm và vận dụng sáng tạo, linh hoạt gắn với văn hóa, đặc thù tình hình kinh tế - chính trị của quốc gia. Ngoài ra, cần tăng cường và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ trong huy động nguồn lực, kỹ thuật, thực hiện tham vấn chính sách người cao tuổi,… cho các cơ quan nhà nước nhằm kịp thời điều chỉnh, cập nhật và ứng phó với diễn biến mới của vấn đề già hóa dân số Việt Nam trong tương lai./. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội & UNFPA (2016), Báo cáo Đánh giá 5 năm thực hiện Luật Người cao tuổi 2010 - 2014, Hà Nội. 2. Diễn đàn các Nghị sĩ châu Á về dân số và phát triển (AFPPD) (2016), Tài liệu tham khảo dành cho các đại biểu Quốc hội. Già hóa tích cực. Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Đầu tư cho thanh niên. 3. Quỹ dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) (2016), Thông tin tóm tắt: Già hóa dân số nhanh chóng ở Việt Nam - Thách thức và cơ hội 4. Quỹ dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) , Thông tin tóm tắt: Đánh giá mô hình thí điểm chăm sóc người già dựa vào cộng đồng của Qũy Dân số Liên Hiệp quốc. 5. Quỹ dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) & Tổng cục Thống kê (2016), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2014: Cơ cấu tuổi, giói tính và một số vấn đề kinh tế xã hội ở Việt Nam, Nxb Thông tấn. 6. Quỹ dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) & Tổng cục Thống kê (2016), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2014: Mức sinh ở Việt Nam: Những khác biệt, xu hướng và yếu tố tác động, Nxb Thông tấn. 7. Quỹ dân số Liên Hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) & Tổng cục Thống kê (2016), Dự báo dân số Việt Nam 2014 - 2049, Nxb Thông tấn. 8. Ủy ban quốc gia về người cao tuồi (2016), Nghiên cứu đánh giá: Thực trạng người cao tuổi và tình hình già hóa dân số Việt Nam, Hà Nội. 9. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2010), Một số vấn đề cơ bản về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. 10. Vũ Huy Từ, Lê Chi Mai và Võ Kim Sơn (1998), Quản lý Khu vực công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội   GS. Nguyễn Thị Mỹ Dung ThS. Bùi Nghĩa Link bài viết: http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/chinh-sach-nguoi-cao-tuoi-tiep-can-tu-quyen-co-ban-cua-cong-dan-trong-hien-phap-viet-nam-18136  
Tóm tắt: Theo quy định tại Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 xác định chính sách trợ giúp pháp lý của Đảng và Nhà nước ta như sau: Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, hiện nay Luật Trợ giúp pháp lý đang trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và đã có quan điểm cho rằng nên sửa đổi Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 theo hướng Nhà nước không nên giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động trợ giúp pháp lý, nên giao cho một tổ chức nào đó ngoài Nhà nước làm nòng cốt, xã hội hóa toàn bộ công tác này như hoạt động công chứng, còn Nhà nước chỉ giữ vai trò quản lý điều phối nguồn lực bảo đảm cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, có chất lượng. Bài viết nhằm mục đích tạo diễn đàn trao đổi giữa những người đang thực hiện, nghiên cứu và quan tâm đến công tác này. Bởi đây có thể nói là một vấn đề rất lớn cần phải giải quyết rõ ràng thì mới có thể thiết kế được Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi, bổ sung đúng, chất lượng và có tính khả thi sau khi được Quốc hội thông qua. 
Tóm tắt: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trước đây và Luật Trẻ em năm 2016 đều xác định trẻ em lang thang là nhóm trẻ đặc thù, nên ngoài các quyền của trẻ nói chung, các em còn có những quyền đặc thù, song cơ hội thụ hưởng quyền của các em là rất hạn chế. Hơn nữa, do đặc thù của môi trường sống, nhóm trẻ em này có nguy cơ bị xâm hại trên nhiều lĩnh vực như: là nạn nhân của việc lạm dụng trẻ em, bị bóc lột lao động, bị lợi dụng thực hiện nhiều hành vi trái pháp luật như mại dâm, trộm cắp, buôn bán ma tuý… Chính vì vậy, nếu thiếu đi các điều kiện đặc thù từ phía gia đình, xã hội và Nhà nước, trẻ em lang thang sẽ ít có cơ hội tiếp cận các quyền của mình, các em rất dễ rơi vào hoàn cảnh tồi tệ, tương lai của các em không được bảo đảm.

Đặt câu hỏi

Họ tên:
Email:
Điện thoại:
Tiêu đề:
Nội dung:

Tư vấn pháp luật